Thăng Long phi chiến địa

14 Tháng Tám 20169:08 CH(Xem: 482)
Thăng Long phi chiến địa
THĂNG LONG PHI CHIẾN ĐỊA

Ở lại vì chót tin
Ra đi vì tuyệt vọng
Trở về vì lạc lõng
Vong thân

Tôi đi là tôi đi
Tôi đi như thể tôi hằng sống
Tìm đến nơi nào hỏi nắng mưa
Rằng xác thân tôi thì đã Việt
Hồn tôi mấy gió bụi cho vừa

Tôi về là tôi về
Khi tôi về tới nơi
mọi “tr|chuyện” đã xong rồi
cả đến “ch|truyện” nổi loạn trong lòng người
cũng không còn được nữa

Này giữa các nước
Trung Hoa
Nhật Bản
Đại Hàn
và Việt Nam
nước da vàng nào
hốt hoảng thân da trắng nhất
sấm Trạng Trình quên không so sánh

Này chữ S
hãy lắng nghe đồng loại abc
phản ánh dư luận đâu đây trên thế giới
về cuộc chiến
một-chín-sáu-mươi
một-chín-bảy-nhăm

Jane Fonda ư
Jane Fonda không có gì đáng nói

Nếu có gì đáng nói
là nói-về-nói-với “Che” Guevara

“Che” Guevara
Nếu ngươi chết ở Cuba
ngươi sẽ làm scăng đan thế giới
Nếu ngươi chết ở Bolivia
ngươi sẽ thành thánh tử đạo
Nhưng nếu ngươi chết ở Việt Nam
ngươi sẽ chết uổng mà thôi

Kể từ khi con rồng vàng thành Đại La bay lên múa điềm minh quân khai sáng nghiệp, đến lúc cái triện đỏ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đóng dấu nhập cảnh cho gã-bạch-đinh-là-tôi hôm nay về cố quốc, tính ra đã tròn mười thế kỷ. Mười thế kỷ là một nghìn năm với mấy trăm năm đi đoạn hậu, mấy trăm năm “cài răng lược” đủ mọi thứ chiến tranh vào “xôi đậu” với hòa bình. Cãi cọ nhau vì cung cách đặt tên cho cuộc chiến, không phải là phong độ của thơ và tuỳ bút. Thơ-tuỳ-bút chỉ biết, giữa hai cũ mới thiên niên kỷ, chiến tranh ngơ ngác nằm xuống, hòa bình sống lóe lên chớp cái chớp mắt hộ lịch sử. Lính mọi bên đã chết rục xương rồi. Những vết sẹo của cuộc chiến gần đây nhất cũng không còn thấy trên phường phố nữa. Có còn chăng là còn những vết sẹo trong lòng. Mọc đi núi. Chảy đi sông. Đừng lạc nữa những ngôi sao lạc... Dĩ vãng. Hiện tại. Tương lai. Thể xác. Tình yêu. Linh hồn. Thương cảm. Không thừa không thiếu. Nhé. Ơi ơi ...

Tiếng mõ chiềng làng trong tâm thức, cốc cốc tự thu mình nhỏ lại thành sợi tóc âm thanh, xuyên suốt mặt nước nổi bong bóng phập phòng nghe đất gọi… Hồ Gươm… Hồ Gươm sáng sớm nửa chừng xuân, phảng phất linh hồn loài thiếu phụ thuỷ chung, ôm ngọn tháp, câm vang ru hạt bụi rong rêu, dưới một thức mây nhớ nắng mặt trời này lặn, mặt trời kia chưa kịp mọc. Sương đọng trên cỏ vẫn gọi nhau là “móc”. Gió thi thoảng niêm phong Hà Nội, mang độ ẩm ven sông về bắt nọn những khớp xương tê thấp... Mồ ma liên tưởng... Ông lão mấy mươi húng hắng ho khan, sai con cháu đấm lưng, căn dặn “hũ rượu thuốc ngâm cao hổ cốt hạ thổ đúng bách nhật thì đào, xương nấu cao mua được kỳ này đủ bộ năm con cọp”, mặc gốc mai già lẩm bẩm “con bệnh nhà giàu gần đất xa trời, còn là tốn nhiều thứ lôi thôi nữa, chứ chẳng phải chơi đâu... sâm nhung này, quế phụ này... nuôi vú sữa để bú như trẻ con ấy này...” và hòn non bộ trong chiếc bể lơ thơ mấy con cá vàng, biết thân biết phận “... đúng... nhưng đó là chuyện trăm năm về trước mất rồi...” May cho gã đứng tuổi hãy còn sung sức, ngồi xuống ghế đá ngó mông, làm ra vẻ thương thương nhớ nhớ bâng khuâng “con quốc quốc”. Băng ngang chỗ ngày xưa chú khách bán phá xa húng lìu, kiên nhẫn đợi từng giây từng phút từng giờ, ăn dỗ kỳ được trẻ con lẫn người lớn, mụ nạ dòng hấp tấp như một chính khách bôn ba hải ngoại, chắc đang sồn sồn lo giải quyết cho xong việc “cái gia gia”. Thằng bé đoán trúng phóc ai là “kiều”, ranh mãnh chìa xấp ảnh gạ gẫm, rồi tiu nghỉu. Những tấm ảnh trông sáo quá, người chụp nhìn chưa tới, làm tiền sao được giữa thời đại điện tử “go digital - make every shot a PowerShot”, con mắt Canon hễ cứ hở ra là nhấp lên nháy nhó liên chi hồ điệp. Riêng con mắt “7.2 Mega-Pixels” đằng kia lập dị “Đào đâu ra những đứa trèo me trèo sấu. Trèo me trèo sấu nghĩa đen cơ, chứ nghĩa bóng thì thời buổi này thiếu giống, nói ra sợ mắc vạ, chẳng phải đầu thì cũng phải tai”. Thôi chi bằng ngay trước mặt. Hoạt cảnh. Người người. Xe xe. Lớp lớp. Ngày ngày. Hưng phấn. Tất cả và tất cả. Dềnh lên đương đại. Cô liêu... Con chim sẻ trời sinh không bước được, hiếng mỏ lanh chanh lách chách nhảy đi tìm hạt hiếc gì ăn cho đỡ đói, thèm vào nghe gốc cây phượng sần sùi cho nó xúi quẩy “ê đứng lại xù lông rỉa cánh, dịch cảm cúm gia cầm đang lây lan hoành hành, tội nghiệp, không khéo lại toi thôi”. Những chiếc giày da vàng chạy bộ đuổi theo nhau tán láo giữa một làn hơi khích bác một làn hơi “... Con bé đèo con bé... Của tao… Của mày... Đỗ Hoàng Diệu viết ‘Bóng đè’... gây ấn tượng mạnh... kết cấu phúng dụ... làm tình với những người đàn ông... hết sức tượng trưng... mượn tính dục để chuyên chở thông điệp... nhưng ‘quê’, sỗ sàng, thô lỗ, cực đoan, phiến diện... ‘Nhật ký’... suỵt... nói khẽ chứ... ‘Đặng Thuỳ Trâm’ bị biên tập... cách mạng bài bản... chết sớm quá làm sao ‘xét lại’... Lâu không thấy Phạm Thị Hoài đanh đá cá cày... chữ nghĩa đâm tua tủa như... mái tóc rễ tre nàng nanh nọc... Mẹ kiếp... cả bốn nghìn năm văn hiến mới có một Truyện Kiều quốc bảo... một Nguyễn Du quốc tế... mà thằng Tàu Đổng Văn Thành nó lại cứ nhất định... nó đem ra... nó bêu riếu... rằng phóng tác kém xa nguyên tác... trong... trong Thanh Tâm Tài Nhân phải không nhẩy... mà nó chỉ so sánh có cốt truyện thôi mới tức chứ... Cứ việc nói to lên, sợ chó gì... Ông bạn mũi lõ nói sõi... giọng Bắc di cư vào Nam... năm năm tư... mỗi ngày làm năm sáu vòng... sáng hôm nay đâu không thấy... Của mày.. Của tao... Con bé đèo con bé...” Cái “ái dà rét” ngày đông tháng giá năm xưa đâu nhỉ. Kể cũng lành lạnh gáy. Nhưng mà nóng mặt. Đeo miếng khẩu trang vải xám, đẩy chiếc xe quên ghi xuống là ba bánh hay bốn bánh, đi từ từ nhặt rác không bao giờ hết được trên cuộc đời này ô nhiễm, chị công nhân bịt mồm bịt miệng, buồn trước cái buồn của thiên hạ. Các anh công an mặc quần áo màu lá mạ xanh tươi quá trớn, đi đi lại lại trên mặt bằng năng nổ, vui trước cái vui của thiên hạ. Mấy ông mấy bà mấy cô mấy cậu tây-ba-lô thi nhau giơ ống kính thu hai cái Việt vui buồn không lẫn lộn, mang về xứ sở khoe khoang bôi bác hả. Những họa sĩ Hà Nội đi đâu không biết. Chiếc cầu đỏ khòm lưng không nhớ tuổi. Hai mẹ con hòn đá đã thành tinh, thích nghịch, thì thào ngoan cố “tuổi này là tuổi cầm tinh buồn như chấu cắn, hay thử nhờ lão rùa muôn năm cũ rích kia bấm bốc, pha tử vi vào dịch, xem xem nỗi lòng đôi đấng Ngọc Sơn Thê Húc hôm mai, gặp tuần hay triệt”. Lão rùa nghe, lặn ngay xuống lẩm cẩm nói chuyện với đầu gối “Một kiểu sướng. Hai kiểu sướng. Vài kiểu sướng. Một kiểu khổ. Hai kiểu khổ. Triệu kiểu khổ. Nhà Nước Múa Rối, ấy chết, Nhà Múa Rối Nước một ngày hai lần không biết mệt, cạnh đây thôi”.

Cạnh đây thôi, tiếng phát âm lơ lớ của con mẹ mìn ái nam ái nữ tây phương, đi đứng nghênh ngang vào ám quẻ “phù hoa giả dối” bất chiến tự nhiên thành trên thế đất cường điệu “Thăng Long phi chiến địa”. Khu Phố Cổ, sinh hoạt quần cư Kẻ Chợ, giao thông giăng mắc cửi, chi chít những mặt hàng sầm lên uất, chen vai thích cánh, trương bảng hiệu có “phụ đề chữ Anh” cho nó đô-la-hóa Hà Nội cho nó chắc. Tòa đại sứ Nhật ở đâu không biết. Này đừng lắm chuyện. So sánh làm gì. Đông Kinh khác. Hà Nội khác. Việc gì Hà Nội “phải Đông Kinh”. Hay là chuyện cả nước cứ rối lên chỉ sợ mình không giống Mỹ là chuyện có thật. Mà chẳng phải bao nhiêu đời kiếp nghiệp lai rồi, các cụ nhà mình chuyên môn đi bắt chước Tàu là gì. Còn đến lượt cha chú mình thì “cái gì của Tây cũng nhất”. Mình theo đuôi người ta, là chuyện bình thường. Mình không theo đuôi ai mới là lạ. Nguyên văn “Ici on parle Français” trên bức tường ghẻ lở cũng chẳng sao, nhưng phóng tác từ miệng lưỡi dân gian “vấn đề Hà Nội hoàn toàn do Bắc Kinh giải quyết” thì sao đấy. Gật đầu lia lịa trước những đề xuất ngoại bang. Khốn nỗi, tiêu chuẩn đặt cho mình đều nằm ngoài mình cả. Những nhà thơ Hà Nội đi đâu không biết. Văn minh khập khiễng. Suồng sã tự do. Đành rằng kinh kỹ. Nhưng chỉ toàn những con số khiêu khích chính trị. Cân bằng phiếm định. Đời thuở nhà ai, thực tế chỉ là “ảo”, mơ ước mới là “thực”. Hà Nội đang sợ mình chưa văn minh vật chất đủ. Hà Nội phiêu lưu ký. Nghĩ làm sao cho thích đáng, cho thỏa đáng, thì nghĩ. Lạc quan cũng đúng. Bi quan cũng đúng. Mà hoang mang lại càng đúng hơn cả. Có phải thế không, Hà Nội chơi vơi chới với của tôi ơi. Hong tóc rủ, cây liễu bên hông Nhà Thuỷ Tạ trông giống y như những cây liễu muôn phương trời Âu Mỹ, làm phật ý hai mươi tám phần trăm dân chính gốc Hà Nội, còn sống sót trong lòng đám kiêu binh tứ xứ, nên lại càng tự hào tự nhủ “không văn vật nơi nào giốngnghìn năm văn vật Thăng Long”. Nhưng tách cà phê đăng đắng bảo những hạt đường chưa tan dưới đáy, là có một cái gì khác lạ, là cây liễu này biết nói giọng nước mắt Đinh Lê Lý Trần Trịnh Nguyễn bằng tín hiệu thiên niên kỷ mới, rằng



Nguyễn Đức Liêm

Tôi nhắm mắt dĩ vãng, cố nghĩ sang những điều khác và bắt đầu liên miên hồi tưởng lại những việc đã xảy ra trong đời mình bé bỏng... Tôi ơi đời thật êm đềm quá... U ơ thấy mình oe oe không biết nói mãi đến khi gần hai tuổi... bú tí mẹ... chập chững bi bô ạ ông, ạ bà, ạ cha, ạ mẹ... khóc giãy lên đành đạch... hâm hấp sốt... chảy máu cam... ỉa đùn... đái dầm.... Hết “thúng mủng thùng xèng| ba leng cốc xịt| vào làng xin thịt| ra làng xin xôi| ới chị em ơi| ba chìm bảy nổi” lại giơ bàn tay cho mấy đứa đồng trang lứa chĩa ngón trỏ vào mà “chi chi trành trành| cái đanh thổi lửa| con ngựa chết trương| ba vương lập đế| ú tế đi tìm| hú tim oà ập”, à bắt được mày rồi, cái con ranh con có giọng cười ròn như nắc nẻ không rút ngón tay ra kịp, thế thì tối nay mày phải dẫn tao về nhà mày chơi “xúc xắc xúc xẻ| bước lên giường cao| thấy đôi rồng ấp| bước xuống giường thấp| thấy đôi rồng chầu”, anh mày mới cưới vợ mà, ông lang Lương hàng xóm đờ đẫn khói thuốc lào, chép miệng nói “như thế là tảo hôn đấy” chúng mày ạ... Nhẩy chân sáo lon ton theo bố đến nhà mẹ me tây già xin con chó “Boule” mới đẻ, ôm về nhà, nằm bò ra đất, bẻ chiếc bánh tây ròn thơm nóng, chấm vào đĩa sữa hộp pha nước đun sôi để nguồi nguội, cho chó ăn một miếng, cho mình ăn một miếng... Tung tăng nắm áo mẹ trong phiên chợ, có bà cụ Lơn bán bánh gù chúa là hay nói nhịu, có bác Tiến mũi đỏ quanh năm mắc bệnh cân gian trên phản thịt, có thằng hủi trông thật là tội nghiệp, lênh khênh gầy cao đét, rách rưới như tổ đỉa, ngoẹo đầu ngoẹo cổ, méo miệng ăn xin, lạy ông đi qua lạy bà đi lại bố thí cho “con” khốn khổ tật nguyền bất hạnh này... Sớm tinh sương, mấy đứa đánh thức nhau, lẻn ra vườn sau nhà bà ngoại nhặt táo rụng... Nửa sáng, anh Thìn buộc giây thừng vào đầu đòn gánh quay vù vù ngoài hàng rào dâm bụt, làm giả tiếng ông ba mươi à uôm về làng bắt lợn, trẻ già run cầm cập... Chuồng vịt nhà mình đêm qua bị chồn xé lưới mắt cáo, vào đớp không còn một mống... Bao diêm nhốt dế ô long gáy oang oang, nhe quai hàm sừng sộ với chùm tóc rối quấn trên đầu que nhang cứ trêu ngươi vê vào mặt... Con bồ câu trống cổ cườm crục crục, gù lên gục xuống từng tràng rồi bỏ chuồng bay đi mất tích... Cánh điêu liệng thinh không xây giếng cho tròn cơn vĩ đại... Chèo pheo chèo bẻo mổ quạ lông rắc đầy trời... Nín thở rình gà mái cục ta cục tác đẻ... ấp... xù lông mổ diều hâu cụp cánh rơi như chớp, định quắp những con chíp lông tơ vàng mươn mướt... Hai anh em đẽo cành dâu sâu, bắt sâu dâu, tẩm bột rán lên ăn với lá chanh thái sợi... Mấy chị em xuống bếp nhờ chị người làm bằm cả da lẫn xương thịt hai con rắn nuốt nhau, đúng ra là con rắn hổ nuốt con rắn ráo, bắt gặp nằm chết trân ngoài bụi ruối, làm chả trứng thơm điếc mũi... Rằm tháng tám... Những con giống nặn bằng bột nhuộm phẩm, đỏ kìa, cam kìa, vàng kìa, xanh kìa, không có lam kìa, không có chàm kìa, có tím kìa... và trắng đen xấu hổ... Này, trên là giời dưới là đèn... Đèn ơi là đèn, đèn ông sao, đèn con thỏ, đèn con cá, đèn con cóc còn gọi là đèn thiềm thừ, đèn quả trám, đèn xếp, đèn kéo quân, đèn xẻ rãnh... và đèn điện xấu hổ... Bánh trung thu, Tàu nó mồ hôi mồ kê nhễ nhại giẫm chân lên nhào nặn, mà người mình nhắm mắt làm ngơ mua lấy mua để. Bánh dẻo, bánh nướng, bánh đậu đen không trứng, bánh đậu xanh một trứng hai trứng, bánh thập cẩm, bánh “phù thủi” là một thứ thập cẩm đặc biệt thêm vây, thêm yến, thêm cả, hình như dăm-bông, nhưng chắc chắn là có lạp-xường-gan ướp mai quế lộ... và bánh tây xấu hổ... Đồ chơi trẻ con hoa hòe hoa sói, chiếc tầu hỏa uốn leng keng, chiếc tàu thuỷ phun xình xịch, đàn bướm xập xèng, hai thằng tây đen đánh bốc lùi lùi tiến tiến... và đếm không xuể những thằng bé, những con bé, xấu hổ, nhà bên cạnh nó có, nhà mình không có... Trống sư tử thúc liên hồi kỳ trận, du thủ bên kia, du thực bên này, du côn bên ấy, hầm hè nhau tranh ăn từng góc phố, côn đao dang trẻ con ra múa, người đội lốt hạc mổ vào đầu người đội lốt rùa bò so vai rụt cổ lại... và không có ông Địa cầm quạt “mắc cở” như trong Sài Gòòng ngày mùng hai mùng ba Tết Nguyên Đán múa lân... Súng sính quần áo mới, hí hửng đi chúc Tết họ hàng lấy tiền mừng tuổi, đi đêm tam cúc, đánh cò cua, gieo trạc xếch, rút bất, chơi đố mười, thoăn thoắt chia bài tổ tôm bằng hai tay cho người lớn lấy thưởng... Xin phép ăn rong... Không xin phép, dỗi cơm... Vô cớ tủi thân... Này ngô nghê... Này ngốc nghếch... Này hinh hích cười trừ, ăn gian không được, bỏ... Này gì nữa nhỉ... Này giọt nước mắt khóc con chim sẻ bị trúng đạn súng cao su rơi rụng vẫn còn...

Tôi mở mắt hiện tại. Tôi ơi đời thật êm đềm quá. Tươi như con gái Hàng Đào, xinh như con gái Hàng Bạc cách đây vài thế hệ, đông khách thì còn phải nói, nhưng lúc này đang vắng khách, mà cô em bán quán vẫn thích làm đỏm lạ. Cô em vẫn cứ, vừa soi gương tưởng tượng, vừa líu lo cười với bóng. Cô em chưa bén hồn thu thảo. Cô em còn lênh láng… Hay tôi thử giải mã phông “Wingdings” lời cây liễu trên kia nói, bằng phông “Times New Roman”, thành thơ này cho đỡ nhớ cô em… “Hoàng hôn say tít hương hồn| Chân soi chín suối đi mòn năm châu| Đêm nay sử của nhau sầu| Ngón tay trăm đốt bạc đầu tre xanh| Đỏ con mắt nắng Thạch Sanh| Bồng trăng mười sáu thập thành mà cưng| Đêm nay Nguyễn-thị mừng mừng| Nguyễnvăn tủi tủi trập trùng yêu đương| Vang đôi phụng múa trên mường| Chàng Liêm mái tóc điểm sương mới về”…

2004-05
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn