Trần Lam Giang

14 Tháng Tám 20169:12 CH(Xem: 490)
Trần Lam Giang
TRẦN LAM GIANG

Sacramento, CA
2009 & 2012
Nhà thơ Nguyễn Đức Liêm và tôi, biết nhau từ thủa chập chững vào tuổi thanh niên, dưới mái trường Chu Văn An Sài-Gòn. Ông đẹp trai, thông minh, phong thái thư sinh, cư xử hào hiệp, có nét “càn”. Hứa hẹn một tương lai tung-mây-bạt-gió.

Xoay vần trong xã hội trầm kha, chúng tôi trở nên bạn thân. Thân vì giao tình, không vì giao du. 1957-2009, 52 năm trời. Hơn nửa thế kỷ. Thời gian đi quá sức nhanh! Níu lại không được. Chạy theo không kịp. Tóc trắng đường xa! Dù vậy, dù sao chăng nữa, đời vẫn còn đáng yêu. Chân ơi, bước tới! Bước đi cho đá phải mềm. Thi sỹ bước vào thơ, rất thơ.
Nhận viết tiểu sử tác giả, tôi xao xuyến mấy đêm liền. Cả một thời trai tráng, từng đoạn, từng khúc, trở về với tuổi 70. Sóng lòng dồn dập vỡ cơn mê. Đợt này sang đợt khác. Hăm hở nô nức. Buồn rũ xót xa.
Không được! Thả tâm tưởng trôi theo tình cảm, là không được! Viết bài giới thiệu tác giả với độc giả, phải điềm tĩnh ôn tồn. Vâng!

Nhà thơ Nguyễn Đức Liêm, chính quán ở làng Rừng, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên. Tỉnh này, danh lam thắng cảnh tuyệt vời. Ai đã ở một ngày, suốt đời không quên. Phía đông tỉnh có vịnh Hạ Long. Phía tây tỉnh có dãy núi Đông Triều. Sông Bạch Đằng chảy ngang tỉnh, rẽ thành sông Chanh, sông Rừng. Làng Rừng! Sông Rừng! Thi sỹ là người của làng Rừng, của sông Rừng. Thì ra, thi sỹ bạn của tôi vốn là Người Của Rừng! Ngay trong tỉnh, nhấp nhô những núi nhỏ, cao khoảng 200 thước tây. Đúng là một vùng địa linh quý báu của nước non ta. Sinh quán thi sỹ là tỉnh Kiến An, sát ngay phía nam chính quán. Ông sinh ngày 8 tháng 12 năm 1941 (Tân Tỵ) trong một gia đình lễ giáo nho phong. Nghiêm đường là cụ Nguyễn Công (1906-1993), làm công chức. Nhà huyên là cụ Đàm Thị Tuyên (1909-1987), chính quán ở làng La Khê, tổng Hà Bắc, tỉnh Quảng Yên. Như hầu hết các bậc mẹ hiền Việt Nam trong hoàn cảnh xã hội đương thời, cụ bà làm nội trợ, giữ gìn gia huấn truyền thống, chăm sóc chồng con. Hai cụ sinh được sáu con. Ông Liêm là con trai thứ, trên có một anh, ba chị, dưới có một em gái. Trong nhà, anh, chị em ông gọi song thân là bố, mẹ.
Vì quốc nạn với hiệp định Genève 20 tháng 7 năm 1954, đất nước bị chia đôi, cụ Nguyễn Công đem cả gia đình tỵ nạn Cộng Sản vào Nam. Đợt sóng tỵ nạn ấy được chính quyền đương thời gọi là “di cư”. Tại sao lại “di cư”? Miễn bàn.
Vào Nam, nhà thơ mới 13 tuổi. Học hành khôn lớn ở Sài-Gòn. Cựu học sinh ban B (Toán) trường trung học Chu Văn An Sài-Gòn (1957-1960). Cựu sinh viên đại học Luật Khoa Sài-Gòn (1962-1965). Thời ấy, chương trình cử nhân Luật 3 năm. Sau, đổi thành 4 năm. Rời ghế học đường, ông học nghề đạo diễn với các đạo diễn truyền hình Mỹ của hãng NBC tại Sài-Gòn, và làm đạo diễn ở Đài Truyền Hình Việt Nam (THVN-9, Sài-Gòn). Năm 1969, nhập ngũ, rồi được biệt phái về làm lại ở Đài Truyền Hình Sài-Gòn cho đến khi giặc chiếm miền Nam. Ông giữ một việc hầu như liên tục trong 10 năm! Lạ! Nhưng thực ra chẳng có gì lạ! Với công việc này, cuộc sống của ông không đều đặn tại chỗ. Ngược lại, luôn biến động. Đang thời khói lửa mịt mùng, nhà đạo diễn truyền hình đi công tác, đặt chân lên khắp 4 vùng chiến thuật. Ông thường đến tận nơi, nhìn tận mắt, cảnh bi hùng tráng liệt, cảnh bi đát nát lòng. Thơ ông vượt bờ lãng mạn, một phần nào nảy sinh từ những cảnh ngộ ấy.
Biến động lịch sử 30 tháng 4 năm 1975, nhà thơ sang Mỹ tỵ nạn chính trị. Thời gian đầu của cuộc sống xa quê hương (1975- 1976), ông tạm cư tại Kansas city, tiểu bang Missouri, làm những việc lặt vặt để mưu sinh. Khi rảnh rang, ông có thú đọc các tác phẩm của Jack London, nhà văn Mỹ nổi danh, có cuộc đời bạt mạng. Jack London, sinh trong cơ hàn, lớn làm thủy thủ, du thủ du thực vô gia cư, lên Alaska băng giá tìm vàng. Tìm chẳng được vàng. Được văn chương, thứ quý báu không vàng nào sánh kịp. Không khí trong truyện của Jack London kích thích nhà thơ tỵ nạn chính trị Nguyễn Đức Liêm. Năm 1977, ông phóng thẳng đến miền băng giá này, làm lao động trên những tàu đánh cua “king crab”, ngang dọc bờ biển Bering sea. Công việc nặng nhọc xông pha sóng gió, giá buốt. Nhưng bù lại, nắm bắt được những cảm giác “đi và sống” rất thú vị, rất Jack London, với không gian “bắc cực” này. Rất thú vị hơn nữa là “nghĩ” rất mạnh cho đời mình, cho những sáng tác về sau.
Hai năm ở Alaska, chừng thấm mệt và thấm lạnh, năm 1979, ông rời biển, vào đất liền, đến Virginia học nghề computer tại Control Data Institute, quận Arlington. Từ năm 1980 đến năm 2003, ông làm programmer & systems analyst trong những sở điện toán của các công ty tư doanh ở Washington, D.C., và Bắc Virginia. Công việc nhọc nhằn nhưng cũng có những cảm giác “thách đố gay go” khá thú vị, tương tự như thời học thi tú tài, bóp trán giải những bài toán đại số, hình học khó. Năm 2004, ông về hưu. Hiện cư ngụ tại thành phố Annandale, Virginia.
Nguyễn Đức Liêm tài hoa, lênh đênh bể ái hai vai rộng. Cho đến bây giờ (2009), luôn luôn sống độc thân. Đời ông có những cuộc tình “lớn”. Nhưng… là một “nghiệp dĩ ”. Ông thường băn khoăn và ân hận.
Ông sáng tác đều tay, thường hằng giữ được “phong độ thơ” trong suốt nửa thế kỷ. Đã ấn hành 10 tác phẩm: Thủy mặc (1984), Của những vuôngtròn (1992), Sấm huyền hồng (1994), Ở tuổi không có đâu (1997), Hiu quạnh tay đôi (2000), Đạp cơn động đất lên trời (2004), Chàng Liêm mái tóc điểm sương mới về (2006), Ça va (2008), Tuyển tập (2009) và VangVangTuyết (2011).
“Tuyển tập thứ hai” này đánh dấu việc ông đã hoàn thành một ngàn ba trăm trang thơ & tùy bút & thơ tùy bút. Vậy mà, hình như “làm thơ” đối với ông chỉ là một “nghiệp dư” vì ông rất lười trong việc phổ biến thơ mình.

Trân trọng giới thiệu.
Trần Lam Giang
Tái bút:

Năm 2009, nhà thơ đã in 9 tác phẩm. Tổ chức ra mắt một hai lần. Phát hành, gần như chỉ bằng cách tặng thân bằng, lãng đãng năm ba. Thi phẩm thứ 9, Tuyển Tập I với 432 trang, trình bày thẩm mỹ, in bìa cứng đẹp. Chứng nào tật ấy, để thơ nằm hiu quạnh trong kho. Ngang dạ, tôi đề dạ, tôi đề nghị ra mắt tại Quận Cam. Ông lừng khừng, ngầm ý như ngại, như không ưng. Lừng khừng là tính của ông. Tôi mặc kệ. Ông ngầm ý mặc ông. Cứ lờ đi mà làm là xong.
Mà rồi xong tốt đẹp. Cựu môn sinh Bưởi – Chu Văn An và cựu sinh viên Viện Đại Học Sài-Gòn nồng hậu đón nhận thơ NĐL. Đó là niềm vui. Nhưng lại hơi buồn, hơi hơi thôi! Đa số “các quan viên” ở trên dưới 70, cái tuổi sâu sắc… bắt đầu hơi lẩm cẩm!

Ngược xuôi dòng đời, bạc phơ mái tóc, suy tưởng sâu sắc là lẽ đương nhiên.
Gánh vác việc đời, hai vai thấm mỏi, tránh sao khỏi không “hơi lẩm cẩm”!
Các “cụ” thường tụ tập xả buồn vơi nhớ, khi ăn phở uống cà phê, khi chè tàu thuốc lá, khi bọa chút cồn. Những vấn-đề-cuộc-sống được nêu ra, thảo luận một cách sâu-sắc-hơi-lẩm-cẩm. Thơ đồng môn NĐL, không tránh khỏi nhiều phen bị xách cổ ra. “Bị” hay “được”, tùy! Điều đáng quan tâm là thơ Việt hải ngoại lâm vào tình trạng bi đát oái oăm: thi sĩ nhiều hơn độc giả! Thư Viện Việt Nam ở Quận Cam cho biết, trong 12 năm, nhận được hơn 1000 thi phẩm… Thơ được bàn bạc, phải là thơ rất thơ.
Chủ đề chính quanh thơ NĐL: Thơ nào khó làm? – Thơ NĐL và thơ Bùi Giáng (BG). Nghe chừng thi luận gay go, thực ra chỉ là cà-khịa-thanh-tao, ôn lại hương vị một thời đầu xanh hào hiệp. Thơ nào khó làm? Chủ đề cũ kỹ, hơi vô duyên, thiếu chất thơ. Mấy cậu, xưa làm thày giáo Việt văn, lại đặt nặng.
Một cậu đầu bạc, đắm đuối Đường thi, tự hào thơ mình chẳng bài nào thất niêm thất luật. Niêm luật khó khăn nên thơ Đường hay. Ý cậu muốn nói thơ cậu hay. Cậu rậm râu sói tóc kê tủ đứng – “Thế mà Lý Bạch, Đỗ Phủ, nhiều bài lừng lại thất niêm.” – “Mày thấy lừng, tao thấy xoàng, thì sao?” – “Chẳng giăng sao gì hết! Chỉ biết cụ Bùi Huy Bích đem niêm vào trường quy,làm khó dễ cho sỹ tử, nhưng chính bản thân cụ, có làm được bài nào ra hồn đâu?” – “Ừ… thế thơ nào khó làm?” – “Nghĩ đi nghĩ lại thì chỉ có thơ hay khó làm. Thơ cậu Liêm hay.”
Trong thơ NĐL có câu

Cùng đinh tôi lẫn cung đình
Cái cô khúc khích cửa nhà như son
Trong thơ BG có câu

Em mà đòi mãi chiếc hôn
Thì anh đến phải sờ tay em nhe
Những thân bằng đọc kỹ thơ cậu Liêm, bàn tán ngược xuôi – “BG làm thơ bằng máu huyết. Gieo vần lạc vận một cách trái khoáy, làm nổi bật vần đáng được gieo, là nét thơ độc đáo của riêng ông. BG làm thơ trước NĐL. Vậy, câu ‘cái cô khúc khích cửa nhà như son’ của NĐL có phải chịu ảnh hưởng BG, hay bắt chước BG ít nhiều không?”. Cái cậu nãy giờ ngồi co ro trong xó, uống tì tì, bỗng ngồi thẳng lên, cao giọng – “Trước BG đã có người làm thơ gieo vận kiểu ấy rồi.” – “Ai? Ai ngang tàng như thế trước họ Bùi?” – “Cụ Tú Xương.” – “Đọc cho anh em thưởng thức tí, được không?” – “Sao lại không! Cô Đào Non

Vớ phải cô đào mới tẻo teo,
Rác tai đã lắm sự ỳ èo.
Cầm kỳ thi tửu, vui như phá,
Ruộng đất, tư cơ, mấy cũng nghèo.
Tiền bạc, không vay mà lãi thúc
Thói thành, dầu lịch cũng ra keo
Thôi thôi! Xin kiếu cô từ đấy,
Chiều đãi thì tôi cũng váo sơn
Sơn: chữ nho có nghĩa là núi, cũng có nghĩa là đèo. Mà Trần Tế Xương cũng chẳng phải người đầu tiên gieo vần kiểu này. Không biết từ bao giờ, ca dao đã có câu lý thú

Đèo Ngang đèo Cả không trèo
Thích lên núi Lá xuống núi Cù Mông
Ở Quảng Bình có đèo Ngang. Ở Bình Định cũng có đèo Ngang, lại còn đèo Lá và đèo Cù Mông. Ấy như thế đấy! Hình thức văn thơ đã đi vào ca dao, thì không còn là riêng của bất cứ ai. Vậy NĐL với câu ‘Cùng đinh tôi lẫn cung đình | Cái cô khúc khích cửa nhà như son’ chẳng bắt chước ai hết, cũng chẳng chịu ảnh hưởng của ai cả, chỉ là làm thơ bằng lời ăn tiếng nói Việt Nam.”

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn