Hoàng Dung

14 Tháng Tám 20169:15 CH(Xem: 616)
Hoàng Dung
HOÀNG DUNG
Burke, VA
8/12/2011

Dù thơ đã in trên cả ngàn trang, nhưng thi sĩ Nguyễn Đức Liêm (NĐL) vẫn còn gây ấn tượng “nghiệp dư” với mọi người. Đúng như nhà văn Trần Lam Giang đã nêu rõ lý do “vì ông rất luời trong việc phổ biến thơ mình” trong Tuyển Tập Một (TT1) (2009). Thơ, đúng nghĩa, không có “lớn” với “nhỏ” mà chỉ có “đích thực” hay “không đích thực”. Và Nguyễn Đức Liêm là một nhà thơ đích thực. Trong lần giới thiệu tác phẩm “Ở tuổi không có đâu” tại Little Saigon, CA, năm 1998, nhà phê bình Trần Danh San cũng đã khẳng định “Nguyễn Đức Liêm đích thực là một nhà thơ. Thơ ông rất độc đáo, cả về hành văn lẫn tư tưởng”. Chúng ta sẽ đồng ý với quan điểm này ở những trang kế tiếp.

Tuyển Tập Hai (TT2) (2012) bắt đầu với bài thơ tự do “Vô thủy” và chấm dứt bằng bài thơ thất ngôn bát cú “Vô chung”, nói lên ý niệm “Thơ muôn điệu. Thơ không biết mình đến từ đâu và đi tới đâu” của tác giả. Tứ thơ NĐL liên miên bất tận, không thể nói hết trong vòng ngắn ngủi. Ở đây, chúng tôi chỉ xin nói đến hai đề tài: “Người trong thơ NĐL” và “Lẩy thơ tình NĐL”. Cũng xin ngắn gọn.

“NGƯỜI”
TRONG THƠ NGUYỄN ĐỨC LIÊM
[1]

Nếu trong TT1, ba bài đầu “Bạch huyền hồng, Tứ tuyệt, Tiếng hát trên sông Cửu Long” hình thành “hợp xướng rượu”, thì trong TT2, năm bài đầu “Vô thủy, Khi người say biết yêu, Khi người điên biết yêu, Khi thiền sư biết yêu, Tiên Phật Người” cấu trúc “liên khúc người”. Thoạt nghe, như có cái gì mâu thuẫn. Vì “Vô thủy” vừa đưa hình ảnh “Phật” ra làm mục đích cuối cùng trong cuộc hành trình thăng hoa của người
Trước khi làm người

tôi đã là thơ là rượu
Thơ với rượu là một

Nếu không có Phật tính
thì rượu và thơ cũng chẳng ra hồn

Thì sau đó, “Tiên Phật Người” đã hỏi đáp

Thế Tiên đâu
Tiên xuống làm người
Tiên yêu người
Còn Phật
Phật trở lại làm người
Phật nhớ người

Nhưng nghĩ kỹ, thì hai con đường “từ người lên Phật” và “từ Phật xuống người” này bổ túc cho nhau. Người cần giác ngộ để thành Phật. Và Phật cần trở về sống chung với người, để giúp người sớm giác ngộ.

Rồi đến lượt ba bài “Khi người say biết yêu, Khi người điên biết yêu, Khi thiền sư biết yêu” chia nhau những kinh nghiệm sống, với tất cả hệ lụy của những mẫu người điển hình, tượng trưng này.

“Khi người say biết yêu”: mẫu người sống với những cảm giác mạnh, buồn nhiều hơn vui, khổ nhiều hơn sướng, nhưng vẫn yêu, vẫn giữ được “cái mạch lạc của người say”

Muốn yêu đời ư
Muốn hiểu đời ư
Thì cứ chạy đùng đùng
vào con đường khương tuyến
ôm lấy viên đạn đoàng đoàng mà hỏi
Sao sống gấp đôi
Lại chết gấp ba đời

“Khi người điên biết yêu”: mẫu người chuyên sống với nghịch cảnh, nhìn nghịch cảnh như nguyên nhân thúc đẩy lòng hướng thượng, nên càng yêu, càng giữ được “cái mạch lạc của người điên”

Ba ngàn dặm
không một bóng ai
Lẻ ngàn dặm
người tình đông như kiến cỏ
Ô hay
người gì im như bụt mọc
Mà trời đất ơi
Sao tất cả đi tắm biển
Lại ngồi xoay lưng ra biển

“Khi thiền sư biết yêu”: mẫu người vừa lụy tình vừa thăng hoa vừa luôn luôn hàn gắn, vô hình chung giữ được “cái mạch lạc của người tu”

Phật cứ nói
Tánh không khi kiến tánh
Mà sao tánh những con kiến
đang ngọ nguậy bò
từ tâm can tì phế em
sang lục phủ ngũ tạng tôi
lại có thế này

Họ, ba người “say, điên, thiền”, sống trọn vẹn trong những điều kiện không trọn vẹn. Họ muốn noi gương Người Cồ Đàm đã từng trải trước khi thành Phật Thích Ca.

Vốn dĩ cô đơn tuyệt đối

Mình ta chơi một biển sầu
Nhìn trăng đáy nước bạc đầu thở than

NĐL tự xét và

Biết thế nào là mình
Biết thế nào
nhất định không phải là mình

Để định hướng “tính” “tình” mình

Tôi không phải sinh ra
với tâm tính người cô độc
Nhưng phải sống với tâm tình người
mãi mãi cô đơn

Để định nghĩa “cô đơn” “cô độc”

Cô đơn là một trạng thái của tâm hồn
lạc lõng, có thể sẽ nguôi dần. Cô độc, do
tự bản tính, hết thuốc chữa.

Để xác định nhu cầu tâm sự

Đôi khi
sau những buổi chiều lang thang lạ
tôi cố gắng trở về tôi
liên hệ với người

“Liên hệ với người” là cứu cánh trong đời sống thơ NĐL. “Người” trong thơ ông, muôn màu muôn sắc. Đó là những mẫu người vô danh lẫn hữu danh, trong sách, ngoài đời, linh hoạt từ nghìn năm này sang nghìn năm khác. Đủ loại. Từ tướng quân Mã Siêu của thế kỷ thứ 3 bên Trung Hoa đến tài tử điện ảnh Mỹ James Dean của thế kỷ 20.

Một Mã Siêu oai phong lẫm liệt trong Tam Quốc Chí của La Quan Trung

Mã Siêu mặc áo bào trắng | lồng giáp
bạc lấp lánh | đầu đội mũ sư tử | lưng
thắt đai hổ phù | mắt nảy lửa | gầm vang
như chuông | cầm trường thương | giục
ngựa tiến ra

Nhất một con người gấm Mã Siêu
Phi thân giáp trắng rực nguyên tiêu
Lung linh phượng múa quyền sư tử
Om chín nương nương nựng tiểu kiều

Một James Dean độc đáo, xuất thần trong các phim “East of Eden” (1955), “Rebel without a cause” (1955) và “Giant” (1956).

Thơ với rượu là một
Nó cổ
như Đạo Đức Kinh
Nó mới lạ
như lối diễn xuất của James Dean
trên màn bạc Hoa Lệ Ước

Và giữa Người Gấm Mã Siêu với Thần Tượng Điện Ảnh James Dean, đan xen không biết bao nhiêu hình ảnh và tâm tư của những người đáng cho chúng ta suy ngẫm.

Ba chiến sĩ vang danh “Thái”

Đáy Động Đình Hồ
có thương tôi từng khói sóng …
Có phải cũng vì tôi
đã giữ hình
còn bắt bóng thiêng Tam Thái
Đến Hoàng Hoa Cương
chấm giọt nước mắt Hồng cho Phạm
Phá đoạn đầu đài
muôn năm Học
tiếng Nguyễn hô Yên Báy
Tiếc cho chí lớn Tiêu Sơn
Trương Quỳnh Như ơi
phát phẫn Chiêu Lì

Bốn người lính vô danh

Một người lính Tây Sơn “phạm thượng”

Đứng chấp kích hầu đuốc tơ hồng
trong nội phủ mới nửa tháng trước
còn thuộc về dòng họ
“phi đế phi bá
quyền khuynh thiên hạ”
tôi đã phạm thượng đưa mắt nhìn
bóng xiêm y xao xuyến
ấp ủ lấy dáng nhẹ như nước
của công chúa Ngọc Hân
đang phủ phục
trên nền gấm hoa đại điện
ăn theo nhịp hương bái vững như non
của quan Tiết Chế Thủy Bộ Chư Quân
nhà Tây Sơn

Một người lính xăm tay “sát Đát” đời Trần

Máu chiến vang vang thắng
còn vọng mãi
vào một đêm tháng ba năm Mậu Tí
khi ôm chiếc cọc gỗ bịt sắt nhọn
đóng xuống lòng con sông đầu bạc
góp chút công nhỏ mọn cùng
Thái Sư
Thượng Phụ
Thượng Quốc Công
Bình Bắc Đại Nguyên Súy
Hưng Đạo Đại Vương
Trần Quốc Tuấn
làm lịch sử

Một người lính xe “tăng” Bắc Việt

Riêng tôi ngồi chết lẻ loi
Trong“tăng”xích sắt cột lòi xương chân
Dám xin thưa trước nhân dân
Số lùi được bảo không cần cho“tăng”
Số lùi bị phá rồi“tăng”
Chỉ còn số trúng cỗ săng chiến trường

Một người lính VNCH

Anh còn ghi mãi một đêm sâu
Lênh đênh công tác Hậu Giang nhầu
Nghe người lính“chẻ hoe”đời lính
Chết đứ đừ nguyên cả tháng sau

Hai nhân chứng Mỹ, ngày Nhật Bản đột kích Trân Châu Cảng, do Burt Lancaster và Montgomery Clift đóng, trong phim “From Here to Eternity” (1953), (ngày tiên sinh ấy: 7/12/1941, NĐL sinh ngày 8/12/1941)

Trở về trở về
tôi hãy trở về ngày tiên sinh ấy
Thái Bình Dương
vỡ bùng Trân Châu Cảng
điềm báo hiệu
nội tâm tôi một đời luân lạc

Burt Lancaster cường điệu
ôm Deborah Kerr
ghì chiếc hôn không thỏa
Cơn bọt biển bay ngược chiều định mệnh
nuốt bờ cát trắng
để cõi trăng suông cười
trả lại tôi âm hưởng dã tràng

Monty Monty
Monty Clift
với đôi mắt thiên thần bệnh hoạn
chơi tiếng kèn đồng
mặc niệm mình đi đâu mất hút
thì làm gì nữa nhỉ
chuyện chúng mình
cứ muốn vẫn còn nhau

Những hình ảnh “một ngày như mọi ngày”

Vài hình ảnh đẹp

Người bước vào
ôm con chó nhỏ
Trong mõm chó không có ngà voi
người và chó
vẫn tâm đầu ý hợp

Lửa xõa ngược
bốc xuôi mình kim tự tháp
Một người xoay lưng chắn lửa
làm nóng ran má phấn một người

Đời đẹp quá
Tôi muốn sống
ngay cả trong khi tôi muốn chết

Vài hình ảnh không lấy gì làm đẹp cho lắm

Người bước ra
bỏ người ở lại
sau khi hình như đã
đê em mờ nhau
cứ loạn cả lên rồi

Hắn
được mấy chục thì bỏ về
uống đến ly thứ hai thì đỏ mặt
đọc chưa hết một trang thì buồn ngủ
rồi nằm lên ôm lấy
nàng lỡ những ngày đầu
nàng khóc những ngày giữa
nàng đếm những ngày sau

Đời xấu quá
Tôi muốn chết
ngay cả trong khi tôi muốn sống

Dù “thuyết tiến hóa” của Darwin có bất hạnh tới đâu đi chăng nữa

Vượn tru khỉ tréo đười ươi hú
Nhảy cỡn trên cành tiến hoá chơi
Trúng phải Darwin thì nghĩ lại
Xin cho còn mãi “tuổi xa người”

Thì “làm người vẫn nhất”

Nhưng còn mãi hai chàng Lưu Nguyễn
Để nhân duyên ám quẻ thiên duyên
Lên tiên mới thấy mình nhân bản
Làm người có lẽ sướng hơn tiên
Cho nên, ngay trong khi độc ẩm, NĐL vẫn “liên hệ với người”, vẫn nâng chén mời người tưởng tượng

Tuyết | Độc ẩm | Thơ

Rượu ngon rượu ngon rượu ngon thật
Cất xiết bao năm dưới tửu phần
Có phải tiên sinh người tửu quốc
Thì xin nâng chén quyện tà huân

Ngoài một NĐL “liên hệ với người” bằng xương bằng thịt, còn một NĐL “liên hệ với người” qua những lần ra tay diệu thủ với lời thơ sinh động, nhân cách hóa… siêu thực… hoài niệm…

“Rất một mình”
Như con vượn
lông lá muối tiêu
bước thấp bước cao
đi khệnh khạng
trên những lối mòn
thấp thoáng ẩn hiện
ngoài cánh rừng già xào xạc

“Rất lứa đôi” qua hình ảnh

Đôi bồ câu xám xanh nâu trắng
Bay xuống lêu lêu crúc crúc gù
Tán tỉnh nhau trông càng dễ ghét
Lại càng hết sức dễ thương cơ

Và giữa những khuôn mặt “mưu mô siêu thực”

Kìa một hai ba tám chín mười
Nhân chia trừ cộng tướng tinh tôi
Ngàn khuôn mặt khóc cười tan tác
Ngắm nghía im ầm ngấm nguýt tôi

Vẫn còn một NĐL “rất trẻ con”

Đã lớn đầu rồi mà vẫn cứ
Như hai đứa bé nghiện trung thu
Nhìn cân bánh nướng bày trong tủ
Nước miếng trên môi ứa đứ đừ

Y như lời “phu nhân vô danh kia” phán

Thơ ngài có vóc dáng
con chim ưng đã trưởng thành
đang trổ mã giương oai
nhưng vẫn phảng phất đâu đây
cái ngày xửa ngày xưa
có chú chíp con
còn mọc lông măng
còn ngoác mỏ nghe ngóng mẹ về
còn chiêm chiếp

Trên đây, vừa nói đến một vài mẫu người “nam” trong thơ NĐL. Còn về hình ảnh và tâm tình người “nữ” đầy kịch tính trong thơ ông, thiết tưởng không gì thú vị bằng hãy thử

LẨY THƠ TÌNH NGUYỄN ĐỨC LIÊM
[2]

Nếu lên tôi vẫn lên miền nữ
Kết cỏ xinh xanh ngậm núi đồi
Hiu quạnh tay đôi từng thánh thán
Tụi mình rồi cũng lưỡng vong thôi

Tôi biết
những người đàn bà da trắng đen nhất
trên sòng bạc
Tôi biết
một người con gái da vàng trắng nhất
yêu tôi

Động lòng một mỏi mười mê
Trời bồng đất bế em về với anh
Yêu em nhất phải là anh
Nói theo cách khác thì thành là mê

Trong lúc vô cùng ấy
chúng mình đã tay-trong-tay-nhau
lúc nào ai mà biết được
Em im lặng mỉm cười
Anh mỉm cười im lặng
Im lặng lại càng im lặng
bằng tiếng đôi chim se sẻ
se sẽ gọi nhau tình tự

Em tối cần cho thơ của anh
Mỗi khi gieo vận để thơ thành
Thật trầm như lúc vô thanh ấy
Như lúc anh cần thắng hữu thanh
Em cứ nhìn sâu tận mắt anh
Là em nghe thấy giọng tan tành
Rằng em đẹp quá em xinh quá
Em đếm thêm lần chết mất anh

Như những lúc
đưa em đến đón em đi
nghe đời không trở lại
Kiếp ư em
kiếp vẫn mê đời

Em đi dáng dấp sông dài
Lên cơn biển rộng ra ngoài ban sơ
Em đi em đứng là thơ
Anh đi anh đứng lên bờ quạnh hiu

Như mãi mãi một đêm đang cổ tích
nhẹ bước ôm em
nâng giấc thơm tho
nồng hơi thở vinh vang cười tít mắt
Thơ anh có chết đi không sống lại
lần chín mươi chín ngàn
chín trăm chín mươi chín
cũng đành

Từ tây tôi giạt mãi sang đông
Tìm đến cho ra thứ phấn hồng
Đánh thử lên trời xem có được
Mặn mòi như má ửng cô không

Em
sao bấy giờ
em cứ nhón chân kiễng mình thon
nồng nàn hơi thở
nhắm mắt mi cong
đòi tiết điệu những làn môi gắn
để bây giờ
anh thèm muốn đến chết đi được
một chiếc hôn
chờ biết đến bao giờ

Em
Long lên ngòng ngọc mắt em mềm
Anh đi vào cõi sa trường túc
Đánh những trận tình cong cớn đêm

Tình này anh chấp hết
Trước anh và sau anh
không có ai yêu trọn vẹn
trong những điều kiện không trọn vẹn
như anh

Đột nhiên
nàng cầm dao
đâm vào tim tôi tới tấp
Tôi tránh được
Tôi không được tránh
Một nhát hai nhát mười mấy nhát
Vừa đâm nàng vừa nguyền rủa
Đồ huyền hồng | Đồ sấm | Đồ thơ

Tôi đáng nhẽ
vẫn nằm nguyên trong gió
nhân thế gọi là“yên giấc nghìn thu”
vì đã hiểu được đàn bà
là hiểu được“không thể nào hiểu được”
nhưng còn nợ bài thơ chưa trả
cho giòng sông say trắng
với lại

Xa tít nơi kia cõi khác đời
Tận chân trời mộng vắng mây tôi
Bao giờ mọc cánh bay về được
Cho hết bây giờ tê tái tôi

[1] Trích thơ NĐL: in nghiêng

[2] Toàn thơ NĐL: thơ vần in thẳng thơ không vần in nghiêng

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn