Nguyễn Đức Liêm

14 Tháng Tám 20169:15 CH(Xem: 419)
Nguyễn Đức Liêm
NGUYỄN ĐỨC LIÊM

Annandale, VA
Giới Thiệu Tuyển Tập 23/5/2010

Kính thưa Quí Vị,

Hôm nọ, có người hỏi “quan niệm của tôi về nền văn hóa hải ngoại” nói chung, và nói riêng “khi làm thơ tôi có bị ai ảnh hưởng ảnh hiếc gì không.”

Câu trả lời thứ nhất, về “nền văn hóa hải ngoại”, là, với ai thì tôi không biết, nhưng với riêng tôi thì đây là một dịp may hiếm có, một cơ hội bằng vàng, nghìn năm một thủa, để mình tạo ra cho chính mình một nền văn hóa riêng biệt, một nền văn hóa hoàn toàn độc lập, một nền văn hóa sòng phẳng, đi thênh thang trong cõi… không nợ nần ân oán… Không nợ nần như một số người ở những thế hệ “xa xăm cụ kị” cứ nhất định gán cho mình cái câu “bên Tàu nó nói như thế”. Không ân oán như một số người ở những thế hệ “cha ông gần gũi” cứ nhất định ghép cho mình cái câu “bên Tây nó nói như vậy”. “Bên Tàu nó”, “bên Tây nó”, nghe có vẻ xách mé, mà thực ra là “bảo hoàng hơn vua” đấy ạ. Ấy thế mà cũng còn hơn chán vạn người của cái thế hệ đương đại, cứ tưởng bở, đang âm mưu về Việt Nam xin xỏ đỡ đần, chạy chọt văn chương, cầu cạnh. Tôi không độc mồm độc miệng, “ám chỉ” cá nhân ngườ này, “chỉ trích” cá nhân người nọ”. Trái lại và buồn thương lắm.

Câu trả lời thứ hai, về “khi làm thơ tôi có bị ai ảnh hưởng ảnh hiếc gì không”, là, - CÓ - Khi làm thơ tôi quả có bị văn tài của hai tác giả thường xuyên ám ảnh. Rất tiếc, hai tác giả này là hai nhà văn, chứ không phải nhà thơ. Rất tiếc hơn nữa, không ai trong họ là người Việt Nam cả. Để tránh mọi sự ngộ nhận và xuyên tạc, xin phải nói ngay, đây chỉ là một sự việc cá nhân tình cờ thưởng ngoạn, chứ không phải một sự kiện lưu cữu, thâm căn cố đế, cố tình gắn bó, vọng ngoại. Theo thứ tự thời gian, đó là Alexandre Dumas của Pháp và Kim Dung của Trung Hoa. Tất cả tâm tư và hành động của các nhân vật trong tác phẩm củahai tác giả này đều nằm trong ba định đề: cuộc sống, tình yêu và cái chết. Cả hai đều độc đáo. Diễn đạt tài tình. Dàn cảnh éo le. Khi buông khi bắt. Bút lực hùng hậu. Bút pháp vô địch. Và tràng giang đại hải trong những thiên võ hiệp kỳ tình diễm ảo, đầy thảm kịch của họ.

Dạ thưa đầu đuôi nó như thế này.

Bắc Việt. Năm 1947. Trên đường tản cư, gia đình tôi bị nghẽn đường, phải dừng lại ở một làng thuộc quận Thủy Nguyên tỉnh Kiến An, gần cả tháng trời. Tôi, ngày ngày, ngoài giờ học do anh chị tôi dạy, thường một mình đi vơ vẩn khắp làng, làm cuộc phiêu lưu đầu đời kỳ thú, gợi hứng cho những cuộc phiêu lưu dai dẳng nối kết đèo bòng đeo đuổi đến tận cuối đời.

Cả làng mạc lúc đó tan hoang vì lệnh tiêu thổ kháng chiến của Việt Minh, trước tình thế báo động, quân Pháp sắp đổ bộ vào càn quét. Rất nhiều nhà bỏ trống, vô chủ, vì cả nhà đã nhanh chân chạy đi đâu không biết. Một hôm, tôi len lỏi vào một ngôi nhà ở rất sâu trong “ngõ ruối”. Ngôi nhà rất rộng. Ba gian trênmái ngói. Cột nhà toàn bằng gỗ lim, trồng trên nền đất trị. Chắc chủ nhà mới chạy, nên sập gụ tủ chè còn nguyên. Đầy một nhà những trướng liễn và hoành phi câu đối. Lần xuống căn nhà ngang mái lợp bằng cỏ dành dành, tôi lạc vào một thế giới toàn những sách ơi là sách. Trong chiếc đầu tí hon của tôi lúc bấy giờ tựhỏi, không biết sách quốc ngữ ở đâu mà nhiều thế. Hàng lô truyện dịch của Tàu. Như Đông Chu Liệt Quốc, Tam Quốc, Thủy Hử, Đãng khấu chí tức Tục Thủy Hử. Rồi Phong Thần, Phong Kiếm Xuân Thu, Chung Vô Diệm, Thuyết Đường, Phản Đường Tàn Đường. Rồi Càn Long Du Giang Nam, Hỏa thiêu Hồng Liên Tự, Hoang Giang nữ hiệp với Ngọc Cầm Kiếm Thu v.v. và v.v. Chính những cuốn sách võ hiệp mới còn ở “giai đoạn quyền” này sẽ mở đường cho “không gian chưởng” của Kim Dung về sau.

Tôi lúc đó mới biết đọc biết viết chừng hơn một năm gì đó. Nhưng sẵn máu tiểu thuyết trong số tử vi, cho nên mừng ơi là mừng. Như vào chỗ không người. Trong mấy ngày liền, tôi mới có lên sáu lên bảy, mà đã làm chuyện vô cùng phi pháp là nghiễm nhiên, lon ton bê gần hết cả kho truyện của người ta về nhà trọ, cho các anh các chị chuyền tay nhau ngấu nghiến đọc, còn mình thì cũng bắt đầu học đòi, mê mải ê a.

Và vẫn tiếp tục đọc cho đến khi chạy sang làng khác thì chia nhau nhét vào đám đồ đạc chỗ này một cuốn, chỗ kia hai, ba cuốn. Riêng tôi, còn ẵm theo nguyên một bộ, cũng võ hiệp, nhưng không phải của Tàu mà của Tây. Dạ thưa đó là bộ Ba Người Ngự Lâm Pháo Thủ của Alexandre Dumas (Père), do Nguyễn Văn Vĩnh xuất thần dịch, hay ơi là hay. Tôi còn nhớ y chang bộ truyện gồm 24 quyển, khổ 16 x 24 cm, đóng chỉ, do công ty Vĩnh Thành in năm 1921 ở Hà Nội. Mỗi quyển mỏng chừng một ly. Quyển nào quyển nấy, giấy đã bắt đầu ngả màu. Tôi nâng niu bộ truyện đến năm 54 di cư vào Nam cũng mang theo, mãi cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì đành vĩnh biệt.

“Đời sống chữ nghĩa” của tôi, như thế là bắt đầu từ những thiên võ hiệp kỳ tình của Trung Hoa và của Pháp. Để tránh mọi sự ngộ nhận và xuyên tạc, xin phải nhắc lại lời tôi đã nói ở trên, đây chỉ là một sự việc cá nhân tình cờ thưởng ngoạn, chứ không phải một sự kiện lưu cữu, thâm căn cố đế, cố tình gắn bó, vọng ngoại.

Sàigòn. Năm 1961. Hễ hôm nào rảnh, tôi có cái thú, là cứ khoảng 8-9 giờ tối, là mò đến tiệm hút thuốc phiện ở đường Ngô Tùng Châu, gần Ngã Sáu Sàigòn. Xin nói ngay là không phải để hút thuốc phiện, mà để chầu rìa ngài Tiền Phong Từ Khánh Phụng. Tiền Phong Từ Khánh Phụng là bạn của ông cậu một người bạn tôi, nên tụi tôi cũng gọi ông là cậu luôn. Không biết tên thật cậu là gì. Chỉ biết cậu người Minh Hương, tức Tàu lai, sinh trưởng ngoài Bắc. Tính rất văn nghệ. Từng là kịch sĩ trong ban kịch của Thế Lữ. Đầu thập niên 50, lập ban kịch “Tiếng Vang” với Thiếu Lang ở Hànội. Soạn kịch. Đi lưu diễn. Năm 54, di cư vào Sàigòn. Và lừng danh đại cao thủ trong “làng Bẹp”.

Nhưng tại sao lại chầu rìa ngài Tiền Phong Từ Khánh Phụng. Dạ thưa là vì lúc đó, ngài Tiền Phong Từ Khánh Phụng đang là dịch giả rất ăn khách cuốn Cô Gái Đồ Long, đăng hàng ngày trên báo Đồng Nai của ông Huỳnh Thành Vị, và 4-5 tờ báo khác, tạo nên “cơn sốt chưởng” trong các tầng lớp độc giả từ bình dânđến trí thức, “cơn sốt chưởng” như “ong vỡ tổ” bay rợp trời báo chí, suốt từ năm 1961 mãi cho đến năm 1975.

Cô Gái Đồ Long, tức Ỷ Thiên Đồ Long Ký, là nguyên tác của Kim Dung, sáng lập viên kiêm chủ nhiệm kiêm tiểu thuyết gia feuilleton của tờ Hương Cảng Minh Báo ở Hồng Kông. Tôi có hỏi ngài Tiền Phong Từ Khánh Phụng là tại sao lại dịch Ỷ Thiên Đồ Long Ký thành Cô Gái Đồ Long, vì đọc đã gần hết truyện rồi mà chẳng thấy “cô gái chém giết rồng” đâu cả, thì ngài phán rằng “cháu không ở trong nghề cháu không biết, đó là cách câu khách, các tòa soạn đều đồng ý như vậy, ăn tiền ở cái tên ấy đấy”. À thì ra thế.

Vậy là ngài Tiền Phong Từ Khánh Phụng, buổi tối, vừa nằm bàn đèn, vừa hút, vừa đọc tờ Hương Cảng Minh Báo ra ban sáng, vừa thỉnh thoảng tra tự điển, vừa dịch bằng miệng, nghĩa là đọc cho một người nằm bò bên cạnh, viết bút chì nguyên tử lên xấp giấy pelure có lót 4-5 tờ carbon, để thành nhiều bản cho các báo. Xong trang nào là ôngcầm lấy trang chính đọc sơ một lượt, xem có gì cần thêm bớt, rồi đưa cho tôi đọc.

Một hôm, tôi còn nhớ, đến đoạn nhà sư Thiếu Lâm Viên Chân đang ngồi trong hang đá luyện công, Trương Vô Kỵ đứng ngoài đưa tay qua kẽ đá để Viên Chân bắt mạch trước khi truyền thụ Cửu Dương Chân Kinh cho mà chữa bệnh. Thấy kinh mạch của Trương Vô Kỵ chạy lạ quá, Viên Chân bèn lấy tay đánh phávách đá, chui ra ngoài, để xem mặt mũi thằng nhỏ này như thế nào mà kinh mạch lại ngược ngạo đời như vậy. Đọc đến câu “Viên Chân vung chưởng đánh đánh bùng một cái vào vách đá”, thấy dịch giả không để ý, sẵn bút tôi ngoặc thêm mấy chữ “trông như thằng bé con nghịch ngợm, đang thọc tay vào tàu hủ” và vô cùng “tiểu nhân đắc chí” là phải -- xin lỗi -- nói phét như thế mới cực tả được Kim Dung. Trong 5-6 tờ báo đăng Cô Gái Đồ Long hôm sau, chắc chắn có một tờ đăng nguyên câu “Viên Chân vung chưởng đánh đánh bùng một cái vào vách đá, trông như thằng bé con nghịch ngợm, đang thọc tay vào tàu hủ”. “Tiền Phong Từ Khánh Phụng đang được người đời phong là Bộ Trưởng Bộ Kiếm Hiệp, mà thế này thì Nguyễn Đức Liêm sắp vồ chức Thứ Trưởng Kiếm Hiệp là cái chắc”.

Trở lại chuyện… dịch giả dịch xong, khoảng 1500 chữ cho mỗi ngày, là sắp tới giờ giới nghiêm. Đã có người của các tòa soạn chực sẵn, phóng mobylette như bay mang về để thợ sắp chữ in cho kịp báo ngày mai. Sàigòn phải đọc Kim Dung sau Hồng Kông một ngày.

Có thể nói tôi là tiên phong của tiên phong trong giới mê truyện chưởng Kim Dung ở Việt Nam. Tôi say sưa đọc và bị Kim Dung cấy “sinh từ phù” tức “vi trùng chưởng” vào người lúc nào không biết. Về sau này có dịp xem phim chưởng Kim Dung do Hồng Kông hay Đài Loan hay Lục Địa làm, nhưng tôi không mấy thích, vì phim nhựa làm suy giảm bố cục và những cá tính độc đáo của các nhân vật, biến bi kịch thành hài kịch rẻ tiền.

Bây giờ đến Alexandre Dumas (Père). Alexandre Dumas, đặc biệt với ba trường thiên nối tiếp nhau, Les Trois Mousquetaires, Vingt ans après, và Le Vicomte de Bragelonne, với nhân vật không phải là d’Artagnan, mà là Athos tức Le Comte de La Fère. Bá tước “de La Fère” là người rất đặc biệt. Ông là dòng dõi quí phái đã nhiều đời công hầu bá tử. Ông có tâm hồn rất mã thượng. Sống thật với chính mình. Đánh kiếm rất hay. Uống rượu rất sành. Đầy đời thảm kịch. Ông đánh kiếm có lẽ còn hay hơn cả d’Artagnan, vì có thể đánh bằng cả hai tay, trong khi d’Artagnan chỉ đánh được có một tay. Trong Vingt ans après tức “20 năm vềsau” tức “Hậu Ba người ngự lâm pháo thủ”, Alexandre Dumas tả có lần bá tước “de La Fère” và d’Artagnan, hai người ở hai chiến tuyến, đã đánh nhau trong bóng tối vì không nhận ra nhau. D’Artagnan đã nhiều phen rùng mình chới với, vì lần đầu tiên trong đời đã gặp một tay kiếm địch thủ lợi hại đáng sợ như vậy.

Thường thường người đọc và nhất là những người làm phim ở Hollywood, chỉ chú trọng tới d’Artagnan, mà không biết chú trọng tới Athos tức bá tước “de La Fère”. Thật là uổng. Thế cho nên tôi đã viết nguyên một trường thi “Le Comte de La Fère”. Trường thi này viết năm 1974 ở Việt Nam, sửa lại và in trong cuốn Của những vuôngtròn năm 1992 ở Mỹ. Đây là một trong trường thi dài nhất của tôi, trên 1000 câu…

Sau đây là một đoạn trong Le comte de La Fère trong Của những Vuôngtròn, tả mối tình của vị bá tước xuất chúng với nàng Anne de Breuil tức Milady de Winter.

Một ly là đến ngàn ly đấy
Đẹp nhất trên đời hãy đến đây
Cả nước nghe không đừng quậy nữa
Ngồi im thì được ngắm ta say

Đời một người hiệp sĩ tình si hôm nay
Là chau cho bàn tay mềm
Là chuốt cho vó ngựa cứng
Vó ngựa cứng để đi tìm nhau nơi địa ngục
Bàn tay mềm
vì còn phải dắt dìu nhau vui thú địa đàng

Tôi đã phi nước đại
từ thái ấp miền Blois
lên kinh thành Ba Lê
nửa đêm đập cửa dựng lão Do Thái
chủ hiệu kim hoàn
ở Des-Fossés Saint-Michel dậy
xong thay ngựa
hộc tốc trở về lâu đài
bay lên nhìn người yêu ngái ngủ
giữa bình minh gothique

Thế nghĩa là:
Từ tây tôi giạt mãi sang đông
Tìm đến cho ra thứ phấn hồng
Đánh thử lên trời xem có được
Mặn mòi như má ửng cô không

Phải đưa nàng đi Auvergne mới được
Nhất định
phải cho nàng xem xem ngọn đồi thu
trước khi vào đến Clermont-Ferrand ấy
có còn thơ dại như mọi năm không nhỉ

Vàng năm nay
vàng ấp ủ hơn vàng năm ngoái

Này mùa thu Massif Central
tuần trăng tôi uống mật môi nàng

Ronsard
đã chết từ bốn mươi sáu năm trước
còn Verlaine thì
hai trăm mười mấy năm sau
mới chịu ra đời
không có ai làm thơ cho nàng
thì cuộc đời xấu hổ
sợ mùa thu mùa ấy giận
thế nên tôi-hiệp-sĩ trở thành tôi-thi-sĩ

Tôi yêu người nữ tôi kiều
Chẻ làm tư sợi tóc chiều ái ân
Sầu tôi từ mãi non thần
Tiên trong em xuống trắng ngần vui tôi
Hoa em niêm yết nụ cười
Nghe em dạ với thưa đời mà thương
Ơi thương thương ới thương thương
Tôi đi vào cõi trầm hương cô mình
Ơi xinh xinh ới xinh xinh
Tôi đi vào cõi si tình cô nương

Xin muôn vàn cảm tạ Quí Vị

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn