Ten Tu

14 Tháng Tám 20169:49 CH(Xem: 821)
Ten Tu
“TEN TU”

Một nhóm mươi người trong “tua” vừa xuống tới nơi. “Tua gai”, hướng dẫn viên, nhẫn nại đếm. Vẫn chưa đủ con số ba mươi ba du khách. Hai người, hướng dẫn viên và tài xế, phục vụ ba mươi ba người, với năm bảy loại quốc tịch, chu đáo. Tài xế không đi theo đoàn, chắc đang ngồi ngủ gật trong xe chờ dưới chân núi. Hướng dẫn viên nói tiếng Anh lưu loát, là một “nữ thí chủ” luyện được môn võ công “Nhìn Đàn Ông Đàn Bà Ơi Là Đàn Bà” của môn phái “Người Nữ Nồng Nàn” trên đỉnh núi Vu Sơn, mây thánh thót, mưa tầm mưa tã. Không thấy “ca ra” nào ám quẻ trên ngón tay đeo nhẫn, nên cứ coi “cháu” là một “góa phụ trẻ măng tình nhất nước”, cho “chú cháu mình” phong phú lên một tí, cho nó đỡ nhụt nhuệ khí trước đám ngoại bang kia. Trông kìa, bọn tây đầm ba lô thi nhau bôi màu nóng lạnh Bắc Âu lên phố núi trung du. Màu vàng hoe của tóc. Màu trắng bệch của da. Màu xanh lè của mắt. Màu đỏ chót của son. Màu hồng đào của phấn. Và màu giang hồ tứ chiếng của máu mủ những người Viking chuyên xưng hùng xưng bá trên mặt biển... Tất cả trông cũng vui vui là lạ đấy, nhưng vẫn không đập vào mắt bằng...

Bà lão người Dao đầu vấn khăn “cà pha dài tám sải”, cuộn phồng lên thành vành, trông, nửa giống vành nón, nửa giống vành khăn hoàng hậu của người Kinh. Búi tóc bạc lấp ló sau gáy, trắng như cước. Áo dài quá đầu gối, tay thụng, hở ngực. Yếm màu xám nhạt, mỗi bên đeo một chuỗi tám cái bông ngù “nom làng gẩu”. Manh “phả xí” bọc quanh bán thân, thêu thùa họa tiết. Quần “hầu tảo” ngắn trên mắt cá, ống loe rộng. Dải thắt lưng “xi lơ chin” vòng quanh eo bụng, chạy phủ ra đằng sau, ngang tà áo. Vai khoác vuông vải “nòm kie”. Chân quấn “xà cạp”. Tất cả đều đen. Tất cả đều bạc phếch, cái bạc phếch đậm nhạt không đều, có duyên bắt mắt của “blue jean” Mỹ, kể cả những mụn vải trước kia có lẽ sặc sỡ ba màu xanh, nâu, đỏ. Mà những mụn vải “vá” khắp nơi trông khéo quá, giống y chang hoa văn trang trí. Bà lão, nước da nạm vàng óng, cao trên trung bình, mình gầy như liễu, lưng vẫn còn thẳng chưa chịu còng theo tuổi. Gầy như liễu trong Đường thi. Khuôn mặt có ánh sáng làm rạng những vết nhăn. Nhăn nheo chứ không nhăn nhó. Nhăn nheo, không phải từ vết roi hằn học vô lối của thời gian, mà từ đường nét chạm trổ “đường bệ” cân đối của người thợ điêu khắc có hoa tay, trên bức bình phong cổ. Chắc trong lòng đang vui, nên tiện tay, người thợ điêu khắc chếch nhẹ đường dao, khe khẽ “cù” lên đôi vành mép để bà lão không cười mà cười, hàm tiếu. Hai tay nâng niu một chiếc gậy, bà lão “đồ cổ” khoan thai ngồi xuống, xếp bằng tròn trên dúm cỏ cạnh đường tùng, trịnh trọng đặt chiếc gậy lên hòn đá vuông mọc lè tè trước mặt, như thể bầy hàng với du khách.

Viết đến đây lại nhớ đến trưa hôm nọ, vừa lái xe ngoài xa lộ vừa nghe đài bá âm loan tin giải Nobel văn chương 2007 vào tay Doris Lessing, người Ăng Lê. Chưa đọc. Về nhà, lên internet, vào Yahoo, tới địa chỉ http://www.nytimes .com/2007/10/11/world/11cnd-nobel.ttml, gặp một bà lão đang ngồi bệt xuống bậc tam cấp ngoài ngưỡng cửa căn nhà trệt, tình cờ họp báo nhận giải đến với mình năm tám mươi tám tuổi. Trong khi ấy, máy chụp ảnh lia lịa, máy quay phim rả rích và tiếng chuông điện thoại trong nhà reo liên hồi kỳ trận. Báo chí hỏi. Bà lão, đã hơi nghễnh ngãng, chậm rãi trả lời. Có một cái gì ấm áp trong lời nói. Có một cái gì dịu dàng trong cử chỉ. Thấy thế, nhà phê bình kia đã ví Doris Lessing giống “mệ” già đi thu nuôi những con mèo hoang ở các khu phố bình dân cũ kỹ bên kia phía bắc thành phố Luân Đôn.

Hai bà lão. Hai hình ảnh. Một mẫu số chung. Một bà lão da vàng, sắc dân thiểu số, người mảnh khảnh, ăn mặc diêm dúa cầu kỳ, đi đứng khoan thai trên rừng xanh núi đỏ vùng đông bắc tơ lơ mơ của cái gọi là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Một bà lão da trắng, sắc dân hồng mao, người đẫy đà, ăn mặc xuềnh xoàng, nói năng từ tốn trước cộng đồng thế giới văn minh kinh kỹ, giữa thủ đô xứ sương mù “bảo hoàng hơn vua” Anh Cát Lợi. Hai hình ảnh, hai cuộc đời đông tây xa cách nhau hàng vạn dặm, lại có một mẫu số chung là phúc hậu, xuề xòa mộc mạc, nhưng đúng đắn chừng mực, thuần túy giản dị và thân mật. Trông thật cảm động và thích thú. Đẹp hơn mệnh phụ.

Bà lão cổ tích – bắt đầu từ bây giờ gọi bà lão người Dao là bà lão cổ tích, với tất cả lòng thân thương trân quí – vẫn “thõng tay vào chợ”, vẫn tiếp tục ngồi tiếp thị cái ông đi qua cái bà đi lại. Cây gậy trúc thẳng băng, “cao” dễ đến trên thước tám, đầu đuôi không phân biệt được vì to bằng nhau, đường kínk nhỉnh hơn hai phân rưỡi. Những đốt trúc đã lên nước vàng vàng xanh xanh bóng bóng, vì được mớm bụi khói mịn bồ hóng lâu ngày trên vách bếp nhà sàn. Nhưng những mấu trúc lại mốc meo đen xỉn, vì bị lửa hơ đốt cháy xém ngay từ khi mới đẵn ở rừng về, mấu nào mấu nấy lồi ra cả khoanh như mắt loài bò sát còn ngái ngủ giữa tiết đông xuân. “Con rắn trúc cạp nong” gồng mình cứng như sắt, đầu đuôi muốn động đậy trong tay bà lão cổ tích, bỗng tự dưng biến thành một thứ linh vật, ví như cây thiền trượng trấn sơn của các phái võ Thiếu Lâm, Võ Đang hay Côn Luân, Không Động gì đó, trong cả núi truyện chưởng Trung Hoa.

Mấy người tây đầm ba lô lác mắt, xì xồ bảo nhau tiến lại. Máy ảnh giơ lên. Tách một cái. Tách một cái. Rồi lại tách một cái. Dân Xcăng-đi-na-viêng sang bán đảo Ấn-Độ-Chi-Na, đi vãn cảnh cheo leo, chơi âm điệu Hồ-Xuân-Hương “một đèo một đèo lại một đèo”. Bà lão cổ tích điềm nhiên đón nhận, tươi như hoa. Một người tây ba lô, râu hùm hàm én, buông chiếc máy digital đeo từ cổ xuống bụng, chắp hai tay lại xá dài một cái. Hiền như Bụt, bà lão cổ tích điềm đạm gật đầu. Thế là đã phân ngôi chủ khách... Cỏ cây ca hát. Gió cuốn đi những lời nói không cần thiết của loài người... Người râu hùm hàm én ra dấu xin phép, rồi cầm cây gậy trúc lên ngắm nghía, hoành tráng như hảo hán múa trường thương, đoạt ấn tiên phong, lên ngựa kéo quân đi dẹp loạn sứ quân, cứu vãn hòa bình. Bà lão cổ tích cười trong ánh mắt reo vui “vật tìm thấy chủ”. Người râu hùm hàm én móc túi đếm tiền trả cho bà lão cổ tích, vừa đưa vừa nói “toen ti tao zân”. Một cây gậy trúc trèo núi, theo thời giá là mười nghìn đồng bạc Việt. Tăng lên gấp đôi, người râu hùm hàm én đã làm truyện đại phản nghịch, đi ngược lại quốc sách “kẹo” của vương quốc ba lô. Không tin, cứ thử theo họ vào hotel, nhất là hostel, xem “tây” cò kè bớt một thêm hai, “đầm” vắt cổ chày ra nước. Ấy thế mà lại trả những hai chục nghìn cho một món chỉ đáng giá có mười nghìn.

“Tức cảnh” phá giá, vài người trong bọn, “cậu” xót cả ruột, “mợ” lộn cả tiết, gầm gừ định cản nhưng không kịp. Đương sự vẫn tảng lờ, chẳng để ý gì đến đồng bọn. Bà lão cổ tích ung dung cầm tiền, đếm trả lại tám nghìn cho người râu hùm hàm én, vừa đưa vừa mủm mỉm vừa nói “ten tu”, rồi đứng dậy rảo bước đi mất hút vào lùm cây bên cánh hữu nhà chùa. Như ngày xửa ngày xưa, có một nàng tiên trên trời biến thành bà lão sa cơ lỡ vận, xuống trần thử lòng người tu nhân tích đức. Thật bất ngờ. Thật không thể nào tưởng tượng được. Bọn tây đầm ba lô lao nhao, ngơ ngác tan hàng, bỏ lại sau lưng họ một người thảng thốt.

Tia chớp “ten tu” vang rền trong tâm thức. “Ten tu” là một thí dụ rõ rệt nhất cho sự giản dị của ngôn ngữ. Giá ngay từ lúc mới bắt đầu lập văn tự, đã “ten one chứ không eleven, ten two chứ không twelve” … thì tiếng Anh nói riêng, tiếng người nói chung, bớt đi được phần nào khúc mắc. Xin nhấn mạnh ở “lúc mới bắt đầu lập văn tự”, chứ đợi đến hôm nay thì mọi truyện đã xong rồi.

Tinh tế của ngôn ngữ, nhiều khi đi quá đà thành sa đọa, nhũng nhiễu, một sự khó chịu của xã hội... Như lối ra đầu đề, chơi chữ hiểm hóc, để đánh lừa, đánh hỏng, hòng buộc tội thí sinh trong trường thi nước Việt thời lều chõng, của một số quan trường, ngoài mặt có vẻ quang minh chính đại, nhưng trong cõi u mê của tiềm thức, chỉ là đám cá mè một lứa hủ nho, tham lam, ích kỷ, quái ác, tàn nhẫn, vô nhân đạo, muốn hưởng độc quyền cai trị nên nghĩ ra đủ mọi cách kìm kẹp nhân tài... Như lối chia “véc bờ” của Pháp, đã quá khứ, còn quá khứ ngắn, quá khứ dài, rồi lại tương lai trong quá khứ, quá khứ trong tương lai, quá khứ của quá khứ, vân vân và vân vân, làm điên đầu người học với người đọc.

Đã có kẻ bị “tẩu hỏa nhập ma” vì văn phạm Pháp. Xin hãy nghe giai thoại văn chương về một người Việt Nam họ Phạm và Léopold Sédar Senghor, người Sénégal bên Phi châu. Cả hai là bạn học, cùng đậu thạc sĩ văn phạm ở Ba Lê vào khoảng giữa những năm ba mươi của thế kỷ hai mươi. Phạm viết văn bằng tiếng Pháp, nghiệp dư, có vài văn tập. Senghor làm thơ, cũng bằng tiếng Pháp, chuyên nghiệp, có nhiều thi tập. Phạm, không lấy gì làm nổi tiếng cho lắm, còn Senghor rất nổi tiếng trong giới văn chương các nước “nói tiếng Pháp”, đã từng được giải thưởng thơ quốc tế Cino Del Duca. Phạm có thời là đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Pháp. Giai thoại xảy ra lúc Senghor đương làm tổng thống nước Sénégal. Một hôm, Senghor gửi tặng Phạm cuốn thơ ông mới sáng tác. Ông “trạng mẹo” họ Phạm đọc xong, bèn gửi trả lại bạn cuốn thơ với những lời “châu phê” bằng mực đỏ trên mỗi trang thơ, rập khuôn mẫu của một nhà giáo đang dạy học trò viết thế nào cho ra câu ra cú, theo đúng tinh thần văn phạm Pháp.

Xin hãy nghe phản ứng của XYZ đối với nhân vật họ Phạm trong giai thoại. Đó đúng là một tên Narcisse cuồng chữ, lúc nào cũng thích soi gương, lúc nào cũng tưởng mình đẹp nhất, nên muốn làm “học phiệt”. Gã chỉ biết đến sự tế phân của chữ nghĩa, của công thức học thuật, chứ không biết đến cái tế nhị giữa bạn với bạn, giữa người với người. Gã độc ác, đố kỵ bạn trên cả hai phương diện văn nghiệp và sự nghiệp chính trị. Gã cứng nhắc, không có một li ông cụ nào uyển chuyển trong đầu. “Ngu trung” với văn phạm, thành ra ngu ngốc với văn chương, với cuộc đời. Tưởng là sang nhưng thật rẻ tiền. Thế mà cũng đòi thò mặt vào thế giới văn học. Thơ, không có văn phạm, đặc biệt là thơ tượng trưng của Senghor, cần gì văn phạm. Thơ, chỉ nên đọc, nên cảm, nên ngâm, nên diễn, chứ không nên luận. Phê bình thơ là chuyện bất đắc dĩ của cao nhân. Vấn đề đặt ra là, có phải giáo dục lại nhà giáo dục kia không. Phải quá đi chứ lị. Tự tôn cái ngữ ấy chính là một thứ tự ti nào đó. “Mặc cảm Phạm” là mặc cảm gì thế hử Sigmund Freud... Nói cho cùng, gã chỉ là một kẻ đáng thương. Gã cô độc quá. Cô độc, chứ không phải cô đơn. Cô đơn là một trạng thái của tâm hồn lạc lõng, có thể sẽ nguôi dần. Cô độc, do tự bản tính, hết thuốc chữa.

Ơ hay, đây là lần thứ mấy mươi rồi đấy nhé, tuỳ bút lại lên cơn “ngộ ác”, độc mồm độc miệng, “chỉ” người này, “trích” người nọ, thương hại người kia, cứ tràng giang đại hải viết cho sướng chữ, lạc cả đề.

“Ten two” là thường lệ, là dễ dãi dễ dàng, là giản dị. “Twelve” là biệt lệ, là vẽ vời, là lập dị. Đem thí dụ có tính cách tượng trưng này làm kim chỉ nam, “giản dị chứ không cầu kỳ lập dị”, để ứng dụng sao cho thích nghi, thích đáng vào mọi truyện, thì lòng người đỡ dài dòng văn tự và trò đời đỡ phiền hà rắc rối biết bao nhiêu.

Bà lão cổ tích cho ta cái cảm giác mình có duyên gặp lại đấng “vô vị chân nhân”, đấng chân nhân không địa vị không ngôi thứ, không tên không tuổi, hốt nhiên tới hốt nhiên đi, mà các triết gia với các thiền sư trong giai thoại xa xăm vẫn thường hằng ngưỡng vọng. Và âm thanh bèo bọt “ten tu” qui kết về điều đơn giản nhất. Chân chất. Thuần phác. Hồn nhiên. Vừa đúng vừa thực. Chân như. Như sự dấn thân trực tiếp, hoàn toàn tỉnh thức vào cuộc sống thường nhật. Như chất men linh hoạt của tuệ giác. Thiền.

Nhưng có bao giờ lại chẳng bị dồn vào thế một mình một ngựa, cô phẫn. Dạ thưa vì mấy ông mấy bà Việt kiều ấy mà, mấy ông mấy bà ấy cậy mình ở Mỹ, ở Anh, ở Pháp về, mấy ông mấy bà ấy cứ ngặt nghẽo lăn ra mà cười, mà kháo với nhau rằng, ối giời đất ơi, chết mất, kỳ quá, tội nghiệp quá, bà lão đồng bóng người thiểu số dở hơi, dại dột, hớ hênh kia, nói tiếng “tây” bồi.

2008
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn