Vết ngón tay thứ sáu của Cung Xuân

15 Tháng Tám 201611:27 CH(Xem: 2233)
Vết ngón tay thứ sáu của Cung Xuân

Vết ngón tay thứ sáu
của Cung Xuân

21/3/2012

nguyenducliem_sangtacmoi-1

Đêm qua lái xe liền tù tì một mạch mãi từ Canada – lên Montréal đưa đám Đào Hữu Châu cho trọn nghĩa đấy mà – về đến nhà là vớ lấy chai cognac tu nhiều nhiều những hơi dài thật đậm, rồi lăn ềnh ra ngủ khì lúc nào không biết. Tang tảng sáng thức giấc. Đất lành lạnh. Trời vào xuân. Mặt nhật đâu đây nhen nhúm lửa, đợi thêm vài khắc nữa là hừng. Bên kia “Annandale – Đèo Ăn Năn”, phu nhân Phan Thị Sao Hôm đang làm thủ tục xin thế vì khai sinh để đổi tên thành cô nương Trần Thị Sao Mai. Đời đẹp quá. Phu nhân với lại cô nương, người Pháp dùng gạch nối gom lại thành một tiếng kép “femme–enfant” trọn gọn.

Tắm táp xong, sang thư viện sửa soạn tâm linh thưởng trà. Nghĩ đến ly rượu bốc men nồng phiêu lãng đãng suốt đêm thâu, chén trà tinh sương khẽ mỉm cười thông cảm. Cái thú ban mai là ngồi xuống mày mò điểm danh bộ đồ trà liên hiệp quốc – Siêu đun nước bằng thủy tinh gắn quai gỗ của Ý. Lò điện Đại Hàn. Bình nước lọc lắp “đầu lọc nước” bằng than bên Gia Nã Đại. Ấm Bát Tràng. Bộ sậu chén, đĩa, khay Nghi Hưng. Lọ sứ, bát sứ với thìa sứ của con cháu Thái Dương Thần Nữ đang âm mưu ấp ủ đám chị em thơm tho họ hàng nhà búp trà trên eo biển Đài Loan kia kìa – Hôm nọ có anh bạn giở giọng hạch sách “trà cụ phải đồng bộ, sao không siêu đồng, sao không bếp lửa, sao lại vân vân và vân vân”, nhưng khi bàn tới chân diện mục trà, thì thấy buồn cười rồi cười buồn. Cũng tùy thôi. Tất cả chỉ là vật ngoại thân. Thời buổi thế kỷ 21 này, mất cái nọ được cái kia. Mà thế kỷ nào mà chẳng vậy. Đừng cố chấp. Đừng ép nhau ngu trung ẩm thực. Đừng ép mình thành kẻ đáng thương. Ngay ở bên Pháp bây giờ họ cũng linh động, không “chấp” nữa, không còn cứ nhất định, hễ tôm cá thì phải vang trắng, thịt thà thì phải vang đỏ. Đã kết vang gì thì cứ vang đó mà rót ra mà nhắm nhót. Cũng chẳng chết ông tây bà đầm nào.

Đổ nước tinh lọc vào siêu, đặt lên lò điện. Cầm chiếc ấm đất màu đồng đen nâu tía, càng ngày càng bóng men mồ hôi tay, lên ngắm. Dáng quả bí ngô tí hon, “bị” lại hóa ra “được” chém ngang lưng, lại hóa ra tâm đắc. Từng cặp múi ấm mọng làn mông con gái đương xoan, trông cứ như chờ, như đợi đằng kia, vòi ấm nó vây vo dương tính. Nhưng khi ánh mắt đậu lên nắp ấm hình cuống hoa sen sáu cánh chau chia Phật, thì lòng thanh thản lại. Chiếc ấm hài hòa con người chưa thành với con người đã thành, Phật. Ấm tử sa Đinh Thục trấn, huyện Nghi Hưng, tỉnh Giang Tô, đời nhà Minh bên Tàu, tưởng chừng như tuyệt tích, nay lại thấy tái xuất giang hồ trong làng Bát Tràng, huyện Gia Lâm, tỉnh Hà Nội, nước Việt Nam – Việt Nam thôi, chứ đừng Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam Cộng Sản gì cả – Trào lưu làm giả ấm tử sa rộ lên ở Thượng Hải vào những năm đầu thế kỷ 20. Các tay buôn tử sa Tàu phát hiện tâm lý sùng bái của tín đồ trà đạo. Vấn đề là làm sao “nhái” được các kiểu ấm của những tên tuổi lớn như Dương Bành Niên, Thiệu Cảnh Nam, Phùng Thế Hà, và nhất là Huệ Mạnh Thần với Cung Xuân, mà vẫn giữ nguyên phẩm chất. Nhân tài, Trung Hoa đâu có thiếu. Chỉ còn phải khổ công chiêu mộ. Đội ngũ “người nhái” có bản lãnh như Cố Cảnh Thu, Bùi Thạch Dân, Giang Án Khanh, Diệp Đắc Hỷ cùng ba đời họ Tưởng ở Nghi Hưng... họp thành một danh sách dài. Từ những bàn tay “nhất phiến tài tình thiên cổ lụy”, trong cái giả có cái thật. Để rồi bây giờ thì căn bệnh truyền nhiễm sang Giao Chỉ. Và cái gã nghệ nhân nặn ấm họ Vương làng Bát Tràng kia, thật đáng mặt cao thủ trong giới làm đồ gốm có hoa tay. Vân vê điếu thuốc lá thơm, chiêu ngụm trà Thái Nguyên đắng đót, anh chàng lập dị chuyên môn đội mũ phớt trắng – khiến bản mặt vốn đã non lại càng thêm choẹt, dù đã cẩn thận nuôi thêm hàng ria sâu róm – nhoẻn mắt môi cất giọng mía lùi.

Đất lấy ở làng Quế... Dạ đúng... Làng Quế Quyển huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam. Đất sét nguyên chất, đào lên phơi khô từng tảng, tán thành bột, rồi rây bằng sàng tre để lọc hết tất cả cặn bã còn lẫn ở trong. Quan trọng là cách thức pha chế kết hợp với các loại đất không tên khác để có độ dai, độ dẻo, độ bền như chất đất Nghi Hưng để đạt được độ nung trong lò, độ nung từ một nghìn một trăm chín mươi độ đến một nghìn hai trăm bảy mươi độ C, vậy nhiệt độ trung bình là một nghìn hai trăm độ, phải không ạ. Mà phải nung lâu tới hăm ba tiếng đồng hồ, ấm mới đã đời ấm. Lại phải chôn ấm dưới đất trong một thời gian “giả cổ” rồi mới tung ra thị trường. Chủng loại đất vẽ vời pha phách điêu luyện kia, là một chất liệu mới lạ đến kỳ lạ, khiến ấm càng dùng càng lên nước, “càng nhìn càng thấy thích ơi là thích”, hôm nọ nhà ông bà Việt kiều ấy tán. Dạ thưa, lò gốm chúng em nổi tiếng là có nhiều tay thợ lành nghề, nhiều tay thợ khéo, nhưng chiếc ấm song ẩm thích ơi là thích này, thì lại vẫn phải đích thân chủ nhân nó mang nặng đẻ đau, nặn bằng tay chứ không phải bằng khuôn, đấy ạ.

Cho nên việc ngã giá chiếc ấm đến một triệu rưởi đồng Việt Nam cũng chẳng có gì quá quắt. Rồi cứ việc theo sách vở. Lúc mới mua ấm về, phải chịu khó “tôi” ấm, nghĩa là ninh ấm trong nồi đựng đầy nước đã khử chlor, thêm ba trăm “gam” trà Thiên Lư. Ninh trong tám tiếng đồng hồ, để ấm có thể hấp thụ chất trà vào các lỗ thông khí, li ti đến nỗi phải dùng kính hiển vi điện tử mới thấy, cho nó át hẳn mùi ngái của đất đi. Sau đó, mỗi sáng uống trà xong lại còn luyện ấm bằng cách dùng bã trà chà xát lên toàn thân ấm, làm sạch các vết nhơ mà không gây trầy xước. Còn lòng ấm, chỉ cần rửa sạch. Ấm mua năm 2004, thấm thoắt tám năm. Mà bây giờ, ấm rửa sạch rồi vẫn ngửi thấy thoang thoảng mùi búp trà Thiên Lư. Nhân tiện, xin phép nói ngoa lên một chút, ấm tử sa nhà họ Vương làng Bát Tràng với ấm tử sa Nghi Hưng có thể ví như rượu vang đỏ Napa Valley của Mỹ với rượu vang đỏ Bordeaux của Pháp. Hai đứa chúng nó một chín một mười, như đôi nam nữ sống già nhân ngãi non vợ chồng, nghe thú đếch chịu được.

Kể từ khi chính quyền Dân Quốc di tản sang Đài Loan năm 1949, nhiều người trong số “thuyền nhân” là nhà sưu tập ấm tử sa hoặc dân bản xứ Giang Tô. Nghề làm ấm cũng được truyền theo. Ấm tử sa nơi thủy địa, cũng đẹp, cũng tinh sảo, không kém gì ấm tử sa lục địa. Còn trà nữa...

Trà ô long Thiên Lư trồng trên vùng núi Lư Sơn ngoài đảo Đài Loan, quanh năm “mù” những mây và sương. Cơ ngơi ôn đới sinh sôi độ ẩm này, lý tưởng cho trà, đặc biệt là trà ô long. Ngày xưa Lục Vũ tuyển trà ra sao không biết, chứ trà xanh Thiên Lư – Ten Lu tea – của Đài Loan hôm nay, đích danh vương tước. Mà “vương trà” này không phải đồ cái thứ “king tea” bầy bán tại mấy hiệu thực phẩm Việt Nam, Đại Hàn, Trung Hoa, đâu đấy nhá. Phải đặt mua nó từ chính đại lý của nó, tức hãng trà “Ten Ren Tea Inc.” bên Mỹ, đặc biệt là ở Phố Tàu Cựu Kim Sơn. Theo tour guide Đài Bắc, mùa xuân, các cô các chú “con trời” địu sọt trúc, đăng sơn hái trà. Hạ sơn đem về xưởng biến chế là bí quyết riêng của người ta, có khổ công tìm hiểu, cũng chẳng làm cho trà ngon thêm đâu. Chỉ biết danh trà Thiên Lư, từng nửa dọc búp non cuồn cuộn dón hòn, khô mà tươi, tốt mã đắt cùi, trông y như mấy thằng cu cái hĩm con nhà giàu nứt đố đổ vách, ăn thôi nôi, bụ sữa, tròn xoe, béo lẳn. Cho thử vào miệng nhai thấy giòn và mềm và dịu như bỏng cốm Vòng, nuốt vào thấy đăng đắng nhưng có hậu ngọt của loài nhân sâm Cao Ly mọc ẩn nơi hang cùng hốc hẻm núi rừng thiên niên tuyết.

Ngẫm vừa đến chữ “hốc”, bỗng giật mình nghe mồn một bên tai tiếng tắc kè trêu ngươi trong hốc tường tâm thức.

Đêm vắng ngắt. Đẹp lạ lùng. Người nghe ngóng nước, hợp tung âm điệu. Trùng trùng duyên khởi…

Ơ kìa tiếng đàn đáy chơi không đáy, ắng giọng ả đào Nghệ Tĩnh trọ trẹ “Bài ca ngất ngưởng”, nhịp phách bị ma đuổi, bốc đồng lơn tiếng trống chầu lão luyện, nghịch hơn quỉ của Uy Viễn tướng công “... Khi Thủ khoa khi Tham tán khi Tổng đốc Đông... Lúc bình Tây cờ đại tướng... Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì... Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng... Khi ca khi tửu khi cắc khi tùng… Hờờờ… Trong triều ai ngất ngưởng ‘bằng’ ông”

Nửa đêm còi hụ giới nghiêm. Tiếng giày đinh tai Đức Quốc Xã đi tuần dưới phố Armsterdam, làm nhức óc cô bé con Hòa Lan gốc Do Thái Anne Frank, nín thở bên khung cửa sổ kín như bưng. Nhưng tiếng đinh tai nhức óc, vẫn không tài nào át nổi nhịp sống con tim, phập phồng thổn thức, lời lẽ miên man con gái dậy thì “Oh je mœurs d’envie d’un baiser qui se fait attendre”

Hũ rượu trôn sâu ba tấc đất bỗng mọc cánh bay lên tít tắp, vang bóng con ma “Lý” thân thiết, líu lo sọng bài “Tương tiến tửu”, lơ lớ phiên âm Hán Việt “Quân bất kiến: Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai bôn lưu đáo hải bất phục hồi. Hựu bất kiến: cao đường minh kính bi bạch phát triêu như thanh ti mộ thành tuyết”

Walt Whitman siêu nghiệm một cái riêng tôi hồn nhiên như cỏ dại “I celebrate myself and sing myself… For every atom belonging to me as good belongs to you… I am large…I contain multitudes”

Đồi Thông Hai Mộ. Làng Châu Ê. Xã Thủy Bằng. Thừa Thiên – Huế. Bức tượng người kỷ hà bằng đá ong đỏ au, khoanh tay nghe “hiền thê” Điềm Phùng Thị, vừa dịch Roger Bissière “Et si quelques-uns, ayant regardé s'attardent et sentent sourdre quelque sympathie pour l'homme que je suis, j'aurai gagné. Si j'ai perdu et si nul ne me tend la main, je remettrai les miennes dans mes poches, plus profondément” vừa thêm thắt ý, theo từng đợt nắng mật ong chiếu lên nấm mộ mình “phụng lập” cho chồng “Và nếu ai đó ngắm nhìn, dừng chân và cảm mến con người trong tôi, tức là tôi đã thành công. Nếu tôi thất bại và chẳng ai chìa tay cho tôi, tôi sẽ đút tay vào túi, thật sâu. Mặc kệ. Không sao đâu, Marie, em vẫn đẹp như thường”

Đêm vắng ngắt. Đẹp lạ lùng. Người nghe ngóng nước, liên hoành ảnh tượng. Trùng trùng duyên khởi…

1952. Ngày xửa ngày xưa có cậu bé miền trung du mê trăng ơi là trăng. Một đêm trăng đến đông nghịt. Vằng vặc thế này chơi một mình không xuể. Lênh láng thế kia chơi hai mình mới đã. Cậu bé lần đến ngõ duối gọi con ranh con có má lúm đồng tiền khúc-kha-khúc-khích, ra chơi chung. Thì chị nó bảo “Nó đi ăn giỗ đằng họ ngoại chưa về, mà có về rồi, u già u ấy cũng không cho phép đi chơi đêm một mình với mày đâu.” Cụt hứng, cậu bé cô đơn lẩm nhẩm mãi đến già “Chưa bao giờ và sẽ chẳng bao giờ trăng sáng thế nữa đâu. Lần đầu đây... Lần cuối đấy ... Lần nào cũng... Chờ đến già rồi... Ước gì mãi mãi, như thằng Peter Pan không lớn...”

2012. Ngày nảy ngày nay có một nhà thơ không giống ai, chuyên làm thơ trên máy tính điện tử. Một hôm bị “tin tặc” vào phá tan hoang. Không đăng báo, không bản sao lưu trữ, bao nhiêu thần cú, có nhớ cũng chỉ còn lõm bõm. Ô hay, té ra, thơ cũng giống ai “một đi không trở lại”, để đến nỗi nhà thơ ta, trông lại càng không giống ai, ngây ngô như người muốn trở về thời mông muội.

Ly đứng lặng chờ rượu. Chén nằm im đợi trà. Chai với lọ. Ly với chén. Đợi thần. Chờ thánh. Tinh mơ.

Siêu nước bắt đầu ậm ọe. Những tăm nước lí nhí hiện ra nằm yên dưới đáy siêu. Chờ thêm tí nữa, tráng ấm chén. Rồi đong vào ấm sáu “đấu” Thiên Lư. Ấy thế là ngồi rình nước sủi, là ngồi chờ tăm hơi luồng nước đầu tiên trồi lên, trỗi dậy. Cho nên phải dùng siêu thủy tinh mới chơi được cảm giác thú vị này. Đây rồi. Luồng tăm nước li ti chi chít nở, bốc xoắn vút lên đến mặt nước thì vỡ tung ra thành một đốm to xấp xỉ bằng đầu ngón tay con bé tí hon rồi tan biến đi như ảo thuật. Thế là hàng đoàn thi nhau hiện, thi nhau biến. Đây chính là giai đoạn ấn tượng ngày xưa các cụ gọi là “ngư nhãn”. Nước sôi non thế mới đúng điệu pha trà Ô Long. Lỡ để nước sôi già một tí, là thể nào cũng bị Thiên Lư nó dỗi – Khoa học định nghĩa sôi già từ ngót trăm độ C trở lên, sôi non từ tám mươi hai đến chín mươi mốt độ – Nhấc siêu đổ đầy lưng ấm đánh thức trà đang mơ ngủ, rồi tống ngay sang bát cảnh bên cạnh. Búp lá mưng lên dễ thương quá, trông bắt mắt như mấy cô nường cung nữ trinh nguyên đang thi nhau luyện ngón nưng niu nứng níu cho ngon, cho thật nồng hương vị gái thanh xuân nắn nót men đời thánh thót, cho nhà vua phát điên lên... phát ân sủng. Chế giàn giụa nước sôi non vào ấm. Trà nở. Nửa búp trôi bung ra ngoài, dính dưới quai ấm. Định phủi đi. Nhưng lạ chưa kìa. Trông như vết ngón tay ai ấy nhỉ... Ờ này bài “Nghiên mực Nghi Hưng - Yi Hsing and Inkstones” trong tạp chí “Arts of Asia” *, số tháng Bảy & tháng Tám, 1971 “Bang trưởng Hoa kiều ở Tân Gia Ba, ông C. M. Wong, sưu tầm được một ấm trà Cung Xuân hình vỏ cây. Dưới quai ấm có vết ngón tay điểm vào. Giới sành chơi cổ ngoạn kháo nhau đó là vết ngón tay thứ sáu của Cung Xuân.” Bàn tay phải của Cung Xuân thừa một ngón. Dạng thức [(Thiên Tài + Tật Nguyền) > Sáng Tạo] là cơ duyên. Đừng. Ai lại đi phủi cơ duyên bao giờ. Đậy nắp ấm lại. Rưới nước ngư nhãn cho tràn đến lưng bát đựng ấm, chờ sắp đụng đến vết ngón tay tật nguyền thì ngừng. Hãm trà. Tráng chén thêm lần nữa. Thói quen như tính nhẩm, một trăm hai mươi giây. Rót. Lê trôn ấm hai ba vòng trên gờ bát sứ vuông, bốn góc cong cong lõm. Chúc vòi róc rách. Ngón cái cùng ngón trỏ quàng miệng chén. Ngón đeo nhẫn chạm hờ trôn chén. Độc ẩm. Không chén tống chén quân. Mà chén thửa gần gấp đôi chén hạt mít. Đưa lên môi. Nguyên khối ngọc long lanh lan tỏa mùi phương thảo. Nhắp. Nhắp. Rồi uống thẳng một hơi.

Trời đất
Có bao giờ có ai
Trong có mấy giây
Có được thiên thu nhỉ
Từ lúc nhắp
Sang lúc uống
Tới lúc trôi
Trôi qua trôi lại
Triết thơ thiền
Trôi lên trôi xuống
Trôi xuống trôi lên
Trùng trùng
Duyên khởi
Say bay

* Tạp chí "Arts of Asia" do bà Tuyết Nguyệt sáng lập năm 1971 tại Hồng Kông. Bà Tuyết Nguyệt người thị xã Tân An, tỉnh Long An. Sinh năm 1934. Học trường Marie Curie, Sàigòn. Sang Mỹ học ngành báo chí tại trường Mundelein College for Women, Chicago, tiểu bang Illinois, tốt nghiệp năm 1958. Bà Tuyết Nguyệt là chủ nhiệm kiêm chủ bút của tạp chí. Chồng bà, kiến trúc sư Stephen Markbreiter, phụ tá chủ bút. "Arts of Asia" ấn hành 2 tháng 1 lần, mỗi lần 15 ngàn số (2012), với “hệ chuyên gia” đóng góp ý kiến trong các lãnh vực nghệ thuật, đến từ gần 100 nước trên thế giới. Bà Tuyết Nguyệt nổi tiếng là “người phụ nữ uy lực nhất của nền nghệ thuật Á châu.” Bà cũng nổi tiếng là “người hồn nhiên yêu nước Việt mình.” Cho nên có chú thích này.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn